“Người cha mà ba tôi chưa từng được biết mặt”
Có những câu chuyện về chiến tranh được ghi lại trong sách, trong những trang lịch sử, trong những bia tưởng niệm. Nhưng cũng có những câu chuyện chỉ được truyền từ người này sang người khác, nằm lại trong ký ức của một gia đình suốt nhiều năm. Câu chuyện tôi sắp kể là một câu chuyện như thế – câu chuyện về ông nội tôi, một người lính đã nằm lại trong những năm tháng chiến tranh, và cũng là câu chuyện về một người con cả cuộc đời chưa từng biết cảm giác được cha yêu thương.
Theo những gì gia đình tôi kể lại, ông nội tôi quê ở Ba Gia – Đồng Ké. Trước kia ông có tham gia chiến tranh. Ông và bà nội tôi có với nhau một người con chung duy nhất, chính là ba tôi.
Tôi không biết ông nội mình trông như thế nào. Tôi cũng chưa từng được nghe giọng nói của ông, chưa từng biết ông thích gì, từng sống như thế nào hay đã từng ôm người con trai duy nhất của mình vào lòng hay chưa. Tất cả những gì tôi biết về ông chỉ là những mảnh ký ức được người khác kể lại.
Câu chuyện ấy bắt đầu vào một ngày chiến tranh.
Theo lời kể mà em gái của bà nội tôi từng kể lại cho mẹ tôi, sau đó mẹ kể cho tôi, ông nội tôi từng bị giặc làm bị thương ngay trong khu vườn của gia đình. Trong lúc bị truy đuổi, ông cố gắng lết vào một bụi chuối để trốn. Nhưng dấu máu đã để lại dấu vết. Quân địch lần theo những dấu máu ấy và tìm được ông.
Điều khiến tôi ám ảnh nhất trong câu chuyện không phải là sự khốc liệt của chiến tranh, mà là một chi tiết nhỏ: khi ấy, ông đang giữ một tài liệu mật.
Ông biết nếu tài liệu rơi vào tay giặc, những thông tin bên trong có thể gây nguy hiểm cho nhiều người. Vì vậy, ông đã lựa chọn nuốt nó đi, quyết không để bí mật bị lấy mất.
Sau đó, ông bị đánh rất nặng để tìm tài liệu. ( đ*p nát đầu)
Cuối cùng, ông qua đời.
Gia đình kể rằng sau đó ông được đưa ra Bắc để chôn cất.
Tôi đã nhiều lần tự hỏi: trong những giây phút cuối cùng ấy, ông có nghĩ đến bà nội không? Có nghĩ đến người con trai nhỏ mà ông chưa kịp nhìn thấy lớn lên không? Ông có biết mình đã có một người con trai duy nhất và người con ấy sau này sẽ phải lớn lên mà không có cha bên cạnh hay không?
Tôi không có câu trả lời.
Có lẽ sẽ chẳng bao giờ có.
Điều đau lòng hơn là ba tôi gần như không có ký ức gì về cha mình.
Bà nội tôi khi ấy nhất quyết không cho ba biết nhiều thông tin về ông. Kể cả sau này khi ba tôi trưởng thành bà cũng nhất quyết không cho ba tôi biết. Bà nghĩ rằng mình có thể tự sinh, tự nuôi con và không muốn ba tôi dính líu đến những chuyện liên quan đến ông nội. Có lẽ trong hoàn cảnh chiến tranh, đó là cách bà lựa chọn để bảo vệ con mình. Có lẽ bà cũng có những nỗi đau riêng mà thế hệ sau chúng tôi không thể hiểu hết.
Nhưng đối với ba tôi, sự im lặng ấy đã để lại một khoảng trống rất lớn.
Ba lớn lên mà không biết cha mình là người như thế nào.
Không có một người cha để gọi.
Không có những ký ức tuổi thơ về cha.
Không có những lời dạy bảo của cha.
Và có lẽ, cũng không có cơ hội để một lần được nghe cha nói rằng: “Ba thương con.”
Tôi từng nghe ba nói một câu mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ:
“Cuộc đời tao không có ba là đã nát rồi.”
Chỉ một câu nói thôi nhưng khiến tôi nhận ra rằng có những mất mát chiến tranh không kết thúc khi tiếng súng ngừng vang. Chiến tranh có thể đã đi qua hàng chục năm, nhưng nỗi thiếu vắng một người cha vẫn có thể ở lại trong lòng một người con suốt cả cuộc đời.
Ba tôi không có cơ hội được biết cha mình yêu thương mình như thế nào có lẻ vì vậy nên ba tôi dành hết thiếu thốn đó để bù đắp cho 5 chị em tôi, chúng tôi được ba cho ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn, ai cũng được học đại học.
Còn tôi, là thế hệ sinh ra trong hòa bình, lại càng khó hình dung được những mất mát ấy lớn đến mức nào.
Tôi chỉ biết rằng, đôi khi nhìn ba, tôi tự hỏi nếu ngày ấy ông nội còn sống thì cuộc đời ba sẽ khác như thế nào.
Nếu ông nội trở về, liệu cuộc đời ba có hạnh phúc hơn hay không?
Và liệu ba có trở thành một người khác nếu tuổi thơ của ba có hình bóng của cha?
Những câu hỏi ấy không có đáp án.
Nhưng chính những câu hỏi đó khiến tôi có một mong muốn rất lớn: tôi muốn tìm lại ông nội cho ba.
Tôi biết mình không thể đưa ông trở về. Tôi cũng không thể thay đổi quá khứ. Nhưng tôi mong một ngày nào đó có thể tìm được thêm một chút thông tin về ông: quê quán chính xác, đơn vị ông từng tham gia, nơi ông hy sinh, nơi ông được an táng hoặc bất kỳ dấu vết nào còn lại.
Nếu may mắn hơn, tôi cũng mong có thể tìm được những người từng biết ông, hoặc những người anh chị em cùng cha khác mẹ của ba tôi.
Tôi không tìm kiếm những điều quá lớn lao.
Tôi chỉ muốn ba có thể biết cha mình là ai.
Tôi muốn ba có một câu chuyện rõ ràng hơn về người đã sinh ra mình.
Tôi muốn khoảng trống trong lòng ba, dù chỉ một chút, được lấp đầy bằng sự thật.
Tôi cũng hiểu rằng câu chuyện tôi biết hôm nay chưa chắc đã đúng hoàn toàn. Nó được truyền lại qua nhiều người: từ em gái của bà nội kể cho mẹ, rồi mẹ kể lại cho tôi. Theo thời gian, có thể một vài chi tiết đã thay đổi hoặc bị thiếu đi. Nhưng tôi tin rằng, trong những lời kể ấy vẫn có một phần sự thật về ông – một người đã sống, đã chiến đấu và đã hy sinh trong một thời kỳ mà đất nước còn chìm trong chiến tranh.
Có thể tôi sẽ không bao giờ biết chính xác ông nội đã nghĩ gì trong những giây phút cuối cùng.
Nhưng tôi muốn tin rằng ông đã cố gắng bảo vệ điều mình cần bảo vệ.
Và tôi muốn tin rằng, dù không thể trở về, ở đâu đó trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời mình, ông vẫn từng nghĩ đến người vợ và người con mà ông để lại.
Ngày hôm nay, khi tôi được sống trong hòa bình, được đến trường, được học tập, được ở bên gia đình và có thể tự do nói về những điều mình yêu thương, tôi mới hiểu rằng những điều bình thường ấy đã được đánh đổi bằng biết bao cuộc đời.
Ông nội tôi chỉ là một người trong rất nhiều người đã đi qua chiến tranh. Câu chuyện của ông có thể không được ghi trong sách giáo khoa, không có một trang sử riêng, nhưng đối với gia đình tôi, ông là một phần của lịch sử.
Và đối với ba tôi, ông không chỉ là một người đã hy sinh trong chiến tranh.
Ông là người cha mà ba tôi cả đời chưa từng có cơ hội được biết và yêu thương.
Tôi kể lại câu chuyện này không phải để khơi lại những đau thương của quá khứ, mà bởi tôi sợ những ký ức ấy sẽ dần biến mất theo thời gian.
Tôi muốn kể để ba tôi biết rằng: ba chưa bao giờ bị lãng quên.
Và tôi cũng muốn tìm kiếm, dù chỉ là một chút thôi, dấu vết của người ông mà tôi chưa từng gặp.
Bởi tôi tin rằng một gia đình có thể mất đi một người, nhưng không bao giờ mất đi ký ức về người ấy.



