Người Chẻ Tre Làm Ống Dẫn Nước
Mùa khô năm 1971, một đơn vị bộ đội đóng quân trên sườn núi thuộc miền Tây Quảng Trị. Suối vẫn còn nước, nhưng dòng nước nằm cách khu lán gần một cây số và ở dưới chân dốc.
Mỗi ngày, hàng chục chiến sĩ phải thay nhau gánh nước.
Một chuyến đi mất gần một giờ.
Có hôm vừa gánh lên đến nơi thì nước đã dùng gần hết.
Người nghĩ ra cách giải quyết là chiến sĩ Lâm Văn Đức, hai mươi bảy tuổi, quê ở Bình Định.
Trước khi nhập ngũ, Đức từng làm nghề dựng máng nước cho các rẫy trên vùng cao.
Anh quen với việc dùng tre để dẫn nước từ khe suối về tận ruộng.
Quan sát địa hình xong, Đức đề nghị:
"Chúng ta không gánh nữa."
"Mình sẽ đưa nước tự chảy lên gần đơn vị."
Một số đồng đội ngạc nhiên.
"Nước làm sao chảy lên dốc được?"
Đức cười.
"Không phải lên."
"Chỉ cần tìm được một khe nước ở cao hơn doanh trại."
Suốt buổi sáng, anh cùng vài chiến sĩ đi men theo sườn núi.
Cuối cùng họ phát hiện một mạch nước nhỏ nằm trên lưng đồi.
Nguồn nước không lớn.
Nhưng chảy quanh năm.
Đức lập tức chặt những cây tre già.
Mỗi thân tre được cắt thành từng đoạn.
Anh dùng dao bổ đôi rồi khoét sạch mắt tre.
Sau đó ghép từng đoạn lại với nhau bằng dây mây và nhựa cây.
Máng tre uốn lượn theo sườn núi, dài gần ba trăm mét.
Đến chiều, mọi người hồi hộp chờ đợi.
Đức lấy một chiếc ca nhôm hứng thử ở đầu máng.
Chỉ vài giây sau, dòng nước mát đã chảy xuống.
Tiếng reo vui vang khắp khu lán.
Một chiến sĩ cúi xuống uống ngay một ngụm nước.
Anh cười lớn:
"Từ nay khỏi gánh nước rồi."
Đức chỉ lặng lẽ kiểm tra từng mối nối.
Anh biết rằng chỉ cần một đoạn bị hở, cả hệ thống sẽ thất bại.
Những ngày sau, mỗi sáng anh đều đi dọc theo máng tre.
Đoạn nào bị lá rụng làm nghẽn thì thông ngay.
Đoạn nào bị nứt vì nắng thì thay mới.
Có hôm mưa lớn làm cây đổ, đè gãy cả chục mét máng.
Đức cùng đồng đội sửa suốt đêm.
Sáng hôm sau, nước lại chảy đều như chưa từng xảy ra sự cố.
Một bác quân y xúc động nói:
"Có nước sạch, bệnh tật cũng giảm đi nhiều."
Đức nghe vậy càng thêm vui.
Anh hiểu rằng dòng nước ấy không chỉ giúp giải cơn khát.
Nó còn giữ gìn sức khỏe cho cả đơn vị.
Một lần, đơn vị bạn đi ngang qua.
Thấy máng tre dẫn nước, họ vô cùng thích thú.
Đức không giữ bí quyết cho riêng mình.
Anh tận tình hướng dẫn từng bước.
Từ cách chọn tre.
Đến cách ghép máng sao cho nước không rò rỉ.
Ít lâu sau, nhiều căn cứ khác cũng có những hệ thống dẫn nước tương tự.
Trong buổi sinh hoạt truyền thống, chính trị viên kể về nữ tướng Nguyễn Thị Định, người luôn sáng tạo và linh hoạt trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành nhiệm vụ.
Ông nói:
"Sức mạnh không chỉ đến từ lòng dũng cảm."
"Mà còn từ trí tuệ và sự sáng tạo."
Đức nhìn dòng nước trong veo đang chảy qua máng tre.
Anh hiểu rằng, một ý tưởng đúng lúc cũng có thể giúp ích cho rất nhiều người.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đức trở về quê.
Ông trở thành cán bộ thủy lợi của huyện.
Suốt nhiều năm, ông đi khắp các vùng cao để giúp bà con dẫn nước về bản.
Có nơi chỉ cần vài ống tre và một con mương nhỏ.
Nhưng đổi lại là cả cánh đồng xanh tốt.
Một hôm, đoàn sinh viên đến tìm hiểu công trình thủy lợi.
Thấy trong góc nhà còn treo một đoạn máng tre cũ, họ hỏi:
"Chú giữ nó để làm gì?"
Đức nhẹ nhàng lấy xuống.
Đoạn tre đã bạc màu, nhiều chỗ còn hằn dấu dây mây năm cũ.
Ông mỉm cười:
"Ngày trước, nó từng mang nước đến cho những người lính giữa rừng."
Các bạn trẻ chuyền tay nhau ngắm nghía đoạn máng tre.
Không ai nghĩ rằng một vật giản dị như thế lại chứa đựng cả một câu chuyện của thời chiến.
Chiều xuống, tiếng nước róc rách vẫn đều đặn chảy qua con mương trước nhà.
Đức đứng lặng nhìn dòng nước trong veo.
Ông tin rằng, cũng như dòng nước ấy, tình đồng đội và sự sáng tạo của những con người trong thời hoa lửa đã âm thầm chảy mãi, nuôi dưỡng ý chí, niềm tin và góp phần đưa đất nước vượt qua những năm tháng gian lao để bước vào thời bình.



