Người chỉ huy "Đại đội anh cả"
Cuối năm 1945, sau khi hoàn thành khóa đào tạo quân sự ngắn hạn tại địa phương, đồng chí Thăng Bình được phân công lên mặt trận Tây Bắc, biên chế về Đại đội 670, đại đội mà sau đó mang tên đồng chí: Đại đội Thăng Bình.
Bấy giờ, địch chiếm đóng toàn bộ Lào Cai, tăng cường xây dựng đồn bốt, tiến hành khủng bố kết hợp mị dân hòng chia rẽ cách mạng với nhân dân. Nhiều nơi dân bản thấy bộ đội đến thì bỏ chạy vào rừng, có nơi xua đuổi, không cho bộ đội vào nhà. Hoạt động trên vùng núi cao, rừng rậm, mùa đông giá lạnh thấu xương không có chăn đắp, cán bộ, chiến sĩ Đại đội phải lấy rơm, cỏ làm ổ thay chăn. Lương thực không có, nhiều ngày anh em phải ăn cháo bẹ, canh măng trừ bữa. Rừng thiêng nước độc, nhiều đồng chí sốt rét li bì. Thuốc men thiếu thốn, một viên ký ninh phải pha vào một ống nứa đầy nước rồi chia nhau từng ngụm nhỏ.
Gian khổ là vậy, nhưng thực hiện phương châm “Thà mất đất chứ không để mất dân”, Bí thư Chi bộ Thăng Bình kiên quyết chủ trương không rút ra vùng tự do củng cố mà chỉ huy Đại đội bám trụ, kiên trì vận động nhân dân. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của trên về tác chiến du kích và từ thực tế chiến đấu, Đại đội trưởng Thăng Bình đề ra phương pháp “Đánh ngay vào bụng giặc”. Đồng chí tổ chức cho Đại đội bám sát đồn giặc bắn súng quấy rối, tổ chức các trận phục kích nhỏ tiêu diệt từng toán quân địch, thu vũ khí, lương thực, đồ quân nhu, tiến dần lên những trận đánh lớn hơn, kết hợp tác chiến với binh, địch vận. Trận đánh đồn Mường Mu bằng công tác địch vận kết hợp nội ứng chiến đã khiến 53 tên địch ra hàng, ta thu toàn bộ vũ khí. Tin đồn Mường Mu được giải phóng bằng công tác địch vận đã gây tiếng vang lớn trên chiến trường Tây Bắc, tác động mạnh mẽ đến binh lính Pháp, khoét sâu mâu thuẫn giữa lính Pháp với lính ngụy. Trong trận phục kích Thôn Mạ-Phố Ràng sau đó, lần đầu tiên Đại đội Thăng Bình chạm trán với đại đội chính quy của Pháp nhưng đã giành thắng lợi, tiêu diệt 1 tên quan hai, 4 lính lê dương, 6 lính khố đỏ... Chỉ từ tháng 3 đến tháng 8-1948, Đại đội Thăng Bình đã đánh 40 trận phục kích, 40 trận bắn phá quấy rối địch.
Tên quan ba Campan, Đồn trưởng đồn Phố Ràng và quan hai Ferrucci, Đồn trưởng đồn Khe Pịa gọi Thăng Bình là “Captain Thăng Bình”-quan ba Thăng Bình, “Đại đội trưởng thép”. Đại đội Thăng Bình trở thành một trong những đại đội độc lập thuộc hàng “anh cả” của Chiến khu Tây Bắc, “Đại đội anh cả canh cửa của chiến trường Lao-Hà”. Trong hồi ký “Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng” (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1970), Thượng tướng Song Hào, nguyên Chính trị ủy viên Liên khu 10 nhận xét: “Nói tới những đại đội độc lập vinh quang ở trên các miền Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái phải nói tới Đại đội Thăng Bình”.



