Người chiến sĩ áo trắng Quảng Nam anh hùng
Người chiến sĩ áo trắng Quảng Nam anh hùng
Đại tá Huỳnh Thúc Bá - Anh hùng LLVTND, người có mặt trong đoàn Đại biểu Anh hùng dũng sĩ miền Nam vinh dự báo cáo với Bác Hồ và chụp ảnh lưu niệm cùng Người tại thủ đô Hà Nội. Đã hai mươi năm trôi qua, kể từ ngày tôi nhập ngũ trở thành một quân nhân, được học tập, phấn đấu rèn luyện, trưởng thành trong môi trường quân đội, là người lính "Bộ đội Cụ Hồ". Tôi đang công tác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh QK5 và Bảo tàng Khu 5, nơi gìn giữ, bảo quản và trưng bày hàng vạn hiện vật, tài liệu, hình ảnh quý có giá trị lịch sử về sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và truyền thống đấu tranh kiên cường anh hùng của Quân và dân khu 5 trong hai cuộc kháng chiến. Biết bao kỷ niệm vui buồn đã qua, trong quá trình học tập công tác, nhưng có lẽ tôi nhớ mãi một kỷ niệm đã khắc sâu vào tâm trí tôi cho đến tận ngày hôm nay. Đó là một lần tôi được gặp "Người chiến sĩ áo trắng Quảng Nam anh hùng" trong dịp đi sưu tầm "kỷ vật kháng chiến" của các cựu chiến binh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm 2008.
Anh hùng LLVTND Huỳnh Thúc Bá (thứ 6, hàng đứng từ trái sang) với các CCB AHLLVTND thành phố Đà Nẵng,
tháng 4-2015. Ảnh CAND Qua các thông tin và địa chỉ điện thoại liên lạc, tôi đã hẹn xin phép được gặp ông tại nhà riêng, đó là đại tá Huỳnh Thúc Bá - Anh hùng LLVTND, người có mặt trong đoàn Đại biểu Anh hùng dũng sĩ miền Nam vinh dự báo cáo với Bác Hồ và chụp ảnh lưu niệm cùng Người tại thủ đô Hà Nội. Hiện ông đang cư trú tại tổ 11 phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Ông sinh năm 1944, quê ở xã Duy Tân - Duy Xuyên - Quảng Nam. Đó là một miền quê nghèo, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, với những con người hiền lành, chất phác, chịu thương chịu khó, một nắng hai sương, giàu lòng yêu nước. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, ông sớm giác ngộ và có ý chí căm thù giặc sâu sắc. Đúng như thời gian đã hẹn trước, tôi đến nhà ông vào một buổi sáng mùa thu năm 2008. Ông vui vẻ mời tôi vào nhà sau cái bắt tay thắm tình đồng đội. Ông pha trà, tôi hỏi thăm sức khỏe gia đình cùng các con cháu của ông như hai người đồng chí lâu ngày gặp lại. Rồi tôi được Ông kể cho nghe những kỷ niệm trong quá trình công tác và chiến đấu trên chiến trường khu 5 đầy gian khổ, ác liệt của hơn ba mươi năm về trước. Ông thoát ly gia đình, tham gia nhập ngũ tháng 10/1962, được điều về làm y tá Đại đội 1, Tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam. Cuộc chiến đấu giành giật cuộc sống về cho thương binh, đồng chí, đồng đội diễn ra từng giờ, từng phút, làm cho y chí tinh thần chiến đấu ngày càng hăng say, tình cảm đồng đội càng thêm gắn bó keo sơn. Ông còn nhớ như in vào tháng 1/1966 trong trận đánh ở Tam Kỳ, ta và địch giáp lá cà, địch bắn phá dữ dội, ông vừa chiến đấu vừa làm nhiệm vụ cứu thương. Dù trong mưa bom bão đạn ác liệt của kẻ thù, ông vẫn bình tĩnh, sẵn sàng lấy thân mình dũng cảm mưu trí đưa thương binh ra vùng an toàn, rồi quay lại cùng đồng đội và đơn vị chiến đấu cho đến giây phút cuối cùng. Ông luôn tự nhủ lòng mình, quyết tâm chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, không khoan nhượng với kẻ thù, xứng đáng với đồng đội, đồng bào đã hy sinh trên mãnh đất "Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ". Trận tiến công đồn Chổi Sũng ( tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó cho 28 thương binh và đưa ra hậu cứ an toàn, mặc dù bản thân cũng bị thương hai lần. Sau trận Kỳ Sanh (6/1965), có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn. Tháng 3/1966, trận đánh ở Núi Giàng- Quảng Nam, khi biết cán bộ chỉ huy hy sinh, trong lúc máy bay địch ném bom bắn phá dữ dội, Huỳnh Thúc Bá tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót hai tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng đội cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo. Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các y tá thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối cùng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ. Suốt bốn năm (1962 - 1966) ông trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong hàng chục trận đánh. Là một y tá tận tụy, ông đã cứu chữa 80 thương binh, cùng đồng đội đưa 120 thương binh về nơi an toàn, nhiều lần chiến đấu bảo vệ, sẵn sàng lấy thân mình che chở cho thương binh giữa mưa bom bão đạn quân thù. Thành tích và chiến công của ông trong chiến đấu đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND vào ngày 17/9/1967. Đó là phần thưởng cao quý nhất đối với cuộc đời binh nghiệp mà ông đã cống hiến cho cách mạng, cho quê hương, cho đất nước.
Anh hùng LLVTND Huỳnh Thúc Bá (người đứng bên Bác Hồ)
và các anh hùng, dũng sĩ miền Nam, năm1969. Ảnh CAND Với ánh mắt rưng rưng ông xúc động kể tiếp: "Trong cuộc đời mỗi người, ai vinh dự được một lần gặp Bác đã quá hạnh phúc, nhưng với tôi, có 3 lần được gặp Bác Hồ đã để lại dấu ấn sâu nặng, trở thành một kỷ niệm thiêng liêng..." Tháng 3/1969 trước khi trở lại chiến trường, ông may mắn được gặp Bác. Ba mươi sáu năm trôi qua nhưng có lẽ đó là kỷ niệm sâu đậm nhất trong cuộc đời ông. Ông như nghẹn lại khi nhắc lại kỷ niệm đã qua với từng chi tiết như vừa mới xảy ra: "Hôm đó chúng tôi đang an dưỡng ở 103 Quán Thánh- Hà Nội. Trước khi đến gặp Bác, đồng chí phụ trách nhắc nhở: Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nguyện vọng của Bác muốn được gặp các đồng chí, yêu cầu tất cả ngồi xa đừng để Bác mệt". Chúng tôi vội đến Phủ Chủ tịch rất sớm. Đón chúng tôi có Bác Tôn, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi biết ý đứng xa nhìn Bác. Bác còn nhớ rõ họ tên tôi, vẫy tay bảo tôi lại gần Bác hỏi:" Cháu Bá đã hết sốt chưa, học tập có tốt không?" Trước khi gặp Bác, các anh ở Tổng Cục Chính trị dặn tôi và cả đoàn không được nói nhiều về tình hình khó khăn gian khổ của chiến trường miền Nam, tôi tự thấy mình không thể nói dối Bác được. Sự thật xảy ra thế nào nói đúng như thế, kể cả sau này khi đối mặt với sự sống và cái chết, những lúc cam go nhất của cuộc đời, nghĩ đến Bác kính yêu tôi thấy như có thêm nghị lực rồi vượt qua tất cả. Đến năm 2001, ông nghỉ hưu sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Quân đội giao phó. Trở về với cuộc sống đời thường nhiều khó khăn, lo toan cho gia đình đè nặng trên đôi vai gầy của ông. Số phận thật nghiệt ngã và trớ trêu không may cho ông bà, đứa con gái đầu lòng bị nhiễm chất độc điôxin, di chứng của hóa chất độc hại mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam trong những năm tháng ông chiến đấu trên các chiến trường khu 5. Chính vợ chồng ông đã truyền cho con những bài học kinh nghiệm, vốn sống, nghị lực vượt lên số phận sống có ích cho đời , cho xã hội làm việc bằng chính bàn tay khối óc và trái tim nhỏ nhắn của mình. Thu xếp việc gia đình tạm ổn, ông "xông pha" vào công tác xã hội, nhiệt tình việc phường, chuyện khối phố, khu dân cư, tổ chức đoàn thể. Ông được sự tín nhiệm của bà con lối xóm, tổ dân phố, bầu ông giữ chức bí thư chi bộ 11 phường Hòa Thuận Tây- quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng. Ông là người lính "Ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng", mọi việc đến tay đều được giải quyết nhanh chóng tạo được sự đồng thuận trong khu dân cư. Ông tâm sự: "Người lính về làm dân còn nhiều khó khăn vất vả lo toan hơn cả nững lúc còn ở trong quân ngũ, nhưng mình phải phát huy tốt hơn nữa tinh thần trách nhiệm của đảng viên, của cựu chiến binh không thể làm ngơ việc xã hội". Chia tay xin phép ông ra về, tôi thầm nghĩ ông luôn mang trong mình dòng máu và truyền thống quân đội anh hùng và phẩm chất người lính cách mạng. Phải chăng đó là phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Gương sáng của ông thật đáng trân trọng và kính phục, để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau ghi nhớ và học tập noi gương mãi mãi. Ông đại diện cho thế hệ cha anh và biết bao lớp người đi trước, phát huy truyền thống anh hùng, tinh thần bất khuất, trung dũng kiên cường của các lực lượng vũ trang Quân khu 5. Tên tuổi của các anh đã viết lên trang sử vàng chói lọi của dân tộc.
Anh hùng LLVTND Huỳnh Thúc Bá (thứ 6, hàng đứng từ trái sang) với các CCB AHLLVTND thành phố Đà Nẵng,tháng 4-2015. Ảnh CAND Qua các thông tin và địa chỉ điện thoại liên lạc, tôi đã hẹn xin phép được gặp ông tại nhà riêng, đó là đại tá Huỳnh Thúc Bá - Anh hùng LLVTND, người có mặt trong đoàn Đại biểu Anh hùng dũng sĩ miền Nam vinh dự báo cáo với Bác Hồ và chụp ảnh lưu niệm cùng Người tại thủ đô Hà Nội. Hiện ông đang cư trú tại tổ 11 phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Ông sinh năm 1944, quê ở xã Duy Tân - Duy Xuyên - Quảng Nam. Đó là một miền quê nghèo, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, với những con người hiền lành, chất phác, chịu thương chịu khó, một nắng hai sương, giàu lòng yêu nước. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, ông sớm giác ngộ và có ý chí căm thù giặc sâu sắc. Đúng như thời gian đã hẹn trước, tôi đến nhà ông vào một buổi sáng mùa thu năm 2008. Ông vui vẻ mời tôi vào nhà sau cái bắt tay thắm tình đồng đội. Ông pha trà, tôi hỏi thăm sức khỏe gia đình cùng các con cháu của ông như hai người đồng chí lâu ngày gặp lại. Rồi tôi được Ông kể cho nghe những kỷ niệm trong quá trình công tác và chiến đấu trên chiến trường khu 5 đầy gian khổ, ác liệt của hơn ba mươi năm về trước. Ông thoát ly gia đình, tham gia nhập ngũ tháng 10/1962, được điều về làm y tá Đại đội 1, Tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam. Cuộc chiến đấu giành giật cuộc sống về cho thương binh, đồng chí, đồng đội diễn ra từng giờ, từng phút, làm cho y chí tinh thần chiến đấu ngày càng hăng say, tình cảm đồng đội càng thêm gắn bó keo sơn. Ông còn nhớ như in vào tháng 1/1966 trong trận đánh ở Tam Kỳ, ta và địch giáp lá cà, địch bắn phá dữ dội, ông vừa chiến đấu vừa làm nhiệm vụ cứu thương. Dù trong mưa bom bão đạn ác liệt của kẻ thù, ông vẫn bình tĩnh, sẵn sàng lấy thân mình dũng cảm mưu trí đưa thương binh ra vùng an toàn, rồi quay lại cùng đồng đội và đơn vị chiến đấu cho đến giây phút cuối cùng. Ông luôn tự nhủ lòng mình, quyết tâm chiến đấu tới hơi thở cuối cùng, không khoan nhượng với kẻ thù, xứng đáng với đồng đội, đồng bào đã hy sinh trên mãnh đất "Trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ". Trận tiến công đồn Chổi Sũng ( tháng 2 năm 1966), mặc cho đạn địch đang bắn tới tấp, đồng chí vẫn bám sát đơn vị, chạy lên chạy xuống kịp thời cứu chữa, băng bó cho 28 thương binh và đưa ra hậu cứ an toàn, mặc dù bản thân cũng bị thương hai lần. Sau trận Kỳ Sanh (6/1965), có 7 thương binh không kịp đưa đi, phải đem giấu trong rừng, phi pháo địch đánh liên tục, đồng chí ở lại tìm cách nuôi dưỡng anh em trong 5 ngày rồi tìm đường dìu cả 7 thương binh về bệnh xá an toàn. Tháng 3/1966, trận đánh ở Núi Giàng- Quảng Nam, khi biết cán bộ chỉ huy hy sinh, trong lúc máy bay địch ném bom bắn phá dữ dội, Huỳnh Thúc Bá tổ chức và chỉ huy 12 đồng chí còn lại vừa chiến đấu ngăn chặn địch, vừa yểm hộ cho nhau đưa thương binh lui về phía sau. Khi ra khỏi trận địa, kiểm tra biết còn sót hai tử sĩ, Huỳnh Thúc Bá lại cùng đồng đội cứu thương quay trở lại tìm bằng được để đưa về chôn cất chu đáo. Huỳnh Thúc Bá còn khéo phát động và tổ chức anh em đẩy mạnh phong trào phòng bệnh, chú ý huấn luyện cho các y tá thuần thục động tác chuyên môn và có kế hoạch chu đáo trước mỗi trận đánh để làm tốt công tác cứu chữa thương binh. Đồng chí thường ở lại trận địa đến phút cuối cùng để kiểm tra, không trận nào bỏ sót thương binh, tử sĩ. Suốt bốn năm (1962 - 1966) ông trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong hàng chục trận đánh. Là một y tá tận tụy, ông đã cứu chữa 80 thương binh, cùng đồng đội đưa 120 thương binh về nơi an toàn, nhiều lần chiến đấu bảo vệ, sẵn sàng lấy thân mình che chở cho thương binh giữa mưa bom bão đạn quân thù. Thành tích và chiến công của ông trong chiến đấu đã được Đảng, Nhà nước và Quân đội phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND vào ngày 17/9/1967. Đó là phần thưởng cao quý nhất đối với cuộc đời binh nghiệp mà ông đã cống hiến cho cách mạng, cho quê hương, cho đất nước.
Anh hùng LLVTND Huỳnh Thúc Bá (người đứng bên Bác Hồ)và các anh hùng, dũng sĩ miền Nam, năm1969. Ảnh CAND Với ánh mắt rưng rưng ông xúc động kể tiếp: "Trong cuộc đời mỗi người, ai vinh dự được một lần gặp Bác đã quá hạnh phúc, nhưng với tôi, có 3 lần được gặp Bác Hồ đã để lại dấu ấn sâu nặng, trở thành một kỷ niệm thiêng liêng..." Tháng 3/1969 trước khi trở lại chiến trường, ông may mắn được gặp Bác. Ba mươi sáu năm trôi qua nhưng có lẽ đó là kỷ niệm sâu đậm nhất trong cuộc đời ông. Ông như nghẹn lại khi nhắc lại kỷ niệm đã qua với từng chi tiết như vừa mới xảy ra: "Hôm đó chúng tôi đang an dưỡng ở 103 Quán Thánh- Hà Nội. Trước khi đến gặp Bác, đồng chí phụ trách nhắc nhở: Sức khỏe của Bác hiện nay rất yếu, nguyện vọng của Bác muốn được gặp các đồng chí, yêu cầu tất cả ngồi xa đừng để Bác mệt". Chúng tôi vội đến Phủ Chủ tịch rất sớm. Đón chúng tôi có Bác Tôn, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi biết ý đứng xa nhìn Bác. Bác còn nhớ rõ họ tên tôi, vẫy tay bảo tôi lại gần Bác hỏi:" Cháu Bá đã hết sốt chưa, học tập có tốt không?" Trước khi gặp Bác, các anh ở Tổng Cục Chính trị dặn tôi và cả đoàn không được nói nhiều về tình hình khó khăn gian khổ của chiến trường miền Nam, tôi tự thấy mình không thể nói dối Bác được. Sự thật xảy ra thế nào nói đúng như thế, kể cả sau này khi đối mặt với sự sống và cái chết, những lúc cam go nhất của cuộc đời, nghĩ đến Bác kính yêu tôi thấy như có thêm nghị lực rồi vượt qua tất cả. Đến năm 2001, ông nghỉ hưu sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Quân đội giao phó. Trở về với cuộc sống đời thường nhiều khó khăn, lo toan cho gia đình đè nặng trên đôi vai gầy của ông. Số phận thật nghiệt ngã và trớ trêu không may cho ông bà, đứa con gái đầu lòng bị nhiễm chất độc điôxin, di chứng của hóa chất độc hại mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam trong những năm tháng ông chiến đấu trên các chiến trường khu 5. Chính vợ chồng ông đã truyền cho con những bài học kinh nghiệm, vốn sống, nghị lực vượt lên số phận sống có ích cho đời , cho xã hội làm việc bằng chính bàn tay khối óc và trái tim nhỏ nhắn của mình. Thu xếp việc gia đình tạm ổn, ông "xông pha" vào công tác xã hội, nhiệt tình việc phường, chuyện khối phố, khu dân cư, tổ chức đoàn thể. Ông được sự tín nhiệm của bà con lối xóm, tổ dân phố, bầu ông giữ chức bí thư chi bộ 11 phường Hòa Thuận Tây- quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng. Ông là người lính "Ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng", mọi việc đến tay đều được giải quyết nhanh chóng tạo được sự đồng thuận trong khu dân cư. Ông tâm sự: "Người lính về làm dân còn nhiều khó khăn vất vả lo toan hơn cả nững lúc còn ở trong quân ngũ, nhưng mình phải phát huy tốt hơn nữa tinh thần trách nhiệm của đảng viên, của cựu chiến binh không thể làm ngơ việc xã hội". Chia tay xin phép ông ra về, tôi thầm nghĩ ông luôn mang trong mình dòng máu và truyền thống quân đội anh hùng và phẩm chất người lính cách mạng. Phải chăng đó là phẩm chất cao đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ". Gương sáng của ông thật đáng trân trọng và kính phục, để thế hệ trẻ hôm nay và mai sau ghi nhớ và học tập noi gương mãi mãi. Ông đại diện cho thế hệ cha anh và biết bao lớp người đi trước, phát huy truyền thống anh hùng, tinh thần bất khuất, trung dũng kiên cường của các lực lượng vũ trang Quân khu 5. Tên tuổi của các anh đã viết lên trang sử vàng chói lọi của dân tộc.



