Người chiến sĩ cộng sản trung kiên

Trần Hữu Dực sinh ngày 15/01/1910, trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Dương Lệ Đông, xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, từ truyền thống của dân tộc, của gia đình và ảnh hưởng của phong trào yêu nước thời bấy giờ, Trần Hữu Dực đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng khi mới 15 tuổi.
Qua thực tiễn hoạt động, được tiếp xúc với sách báo tiến bộ, nhất là những số báo Người cùng khổ, những bài giảng về ''Đường cách mệnh'' của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, nhận thức chính trị của Trần Hữu Dực ngày càng được nâng cao.
Từ nhận thức “không có tổ chức như cát rời, vô dụng”, ngay lúc tuổi 16, Trần Hữu Dực đã chủ trì Hội nghị thành lập tổ chức yêu nước “Ái hữu dân đoàn”.
Tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, “Ái hữu dân đoàn” đã tạo ảnh hưởng tích cực, mở đường cho tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội xâm nhập lan rộng vào Quảng Trị, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào cách mạng của huyện Triệu Phong nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung.
Trong thời gian hoạt động cách mạng từ 1926 - 1945, Trần Hữu Dực bị Pháp bắt 4 lần và bị chính quyền Nam triều kết án tổng số 29 năm tù giam và 22 năm quản thúc, từng trải qua các nhà tù khét tiếng tàn độc của đế quốc thực dân như nhà tù Quảng Trị, nhà đày Lao Bảo, nhà đày Buôn Ma Thuột (2 lần).
Tháng 7 năm 1929, ông bị bắt lần thứ nhất và giam ở nhà tù Quảng Trị. Trước các cực hình tra tấn, ông đã nêu tấm gương kiên cường bất khuất, giành trận thắng đầu tiên của người Cộng sản trước kẻ thù, trong đó có tên trùm mật thám Trung kỳ Xônhi, buộc chúng phải thả ông.
Đầu năm 1931, ông bị bắt lần thứ hai, bị giam ở nhà lao Quảng Trị cùng với một số đảng viên khác. Những tên mật thám Tây, mật thám Việt lồng lộn tra tấn ông hơn 4 tuần lễ nhưng chỉ nhận được câu trả lời không biết, không làm. Kẻ thù đày ông và một số đồng chí khác của ông đi nhà đày Lao Bảo.
Năm 1936, từ Lao Bảo, kẻ địch chuyển ông đến nhà đày Buôn Mê Thuột, một trong những địa ngục khét tiếng của thực dân Pháp xây dựng ở Việt Nam.
Tháng 9 năm 1941, ông bị bắt tại Ninh Thuận. Lần này kẻ địch biết ông là xứ ủy viên, đã qua 3 nhà tù và biết ý chí thép của ông nên chúng quyết bằng mọi đòn tra tấn để khuất phục ông. Chúng tra tấn ông liên tục trong 30 ngày, cuối cùng Chánh mật thám Bình Thuận phải thốt lên “đủ rồi, anh đã thức 15 ngày đêm, khai thế thì biết rồi, bây giờ Phan Thiết chúng tôi xin chịu thua anh”. Ông bị kết án 20 năm tù cộng thêm 4 năm do trốn tù và bị đày đi Buôn Mê Thuột lần thứ 2. Dù ở nhà lao nào, ông Trần Hữu Dực luôn là nòng cốt lãnh đạo tổ chức ở trong tù để củng cố tinh thần đấu tranh của các đồng chí mình và hiên ngang bước qua đầu thù.
Sáng ngày mồng một Tết Âm lịch năm 1944, các chiến sĩ cộng sản bị địch giam cầm đã tổ chức cuộc duyệt binh, chào cờ Tổ quốc ngay trong nhà đày Buôn Mê Thuột do Trần Hữu Dực cùng các đồng chí trong nhà đày tổ chức với sự tham gia của hàng trăm tù nhân đóng vai bộ đội, nhân dân, cán bộ lãnh đạo. Kết quả cuộc duyệt binh rất mỹ mãn, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí mọi người. Trong lịch sử đấu tranh với kẻ thù tại các nhà tù, nhà giam của Thực dân Pháp, đây là lần đầu tiên có cuộc mít tinh chào cờ Tổ quốc ngay trong nơi giam cầm, mang ý nghĩa tiến công cách mạng, vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, nhất trong nhà tù, nhà đày của thực dân, đế quốc, Trần Hữu Dực luôn tâm niệm “Đối với địch, nhất thiết chúng ta phải bước qua đầu chúng. Nếu không, chúng sẽ bước qua đầu ta”.
Từ thuở thiếu thời, Trần Hữu Dực đã “nghiệm ra và thấy rằng mỗi việc làm lớn, nhỏ đều quan trọng và có cách làm tốt của nó. Trước hết con người phải siêng năng, yêu lao động, thích làm việc, không sợ khó, ngại khó, luôn xem người khác làm, hay thì tập làm cho bằng được hoặc hơn, dở thì tránh và xoá bỏ, không cam chịu tụt lại đằng sau” [2]. Có lẽ điều “nghiệm” ra này và những trải nghiệm trong quá trình hoạt động cách mạng” đã hun đúc nên một Trần Hữu Dực gang thép, kiên trung trong đấu tranh cách mạng, bình dị, gần gũi, trong sáng trong cuộc sống đời thường.
Bài học lớn, được Trần Hữu Dực rút ra trong quá trình hoạt động là lòng kiên trì, rèn luyện nhận thức lý luận. Ông cho rằng phẩm chất cao đẹp phải đi đôi với kiến thức rộng, bởi thiếu nó thì hoạt động vô nghĩa, không có phương hướng. Trong tu dưỡng, rèn luyện bản thân, Trần Hữu Dực lấy câu nói nổi tiếng của danh nhân Trần Quốc Tuấn “Tự tri giả anh. Tự thắng giả hùng” tạm dịch là: “người nào tự biết mình mới là người anh minh. Người nào tự mình thắng mình mới là người hùng kiệt” để làm phương châm sống.
Chính phương châm sống này, đã lý giải vì sao khi ông trở thành Chủ tịch Trung Bộ, trong lúc “Một số người thi nhau đem con ra ra thành phố ở những ngôi nhà sang trọng, thậm chí có người cưới vợ ngay trong toà nhà Khâm sứ, yến tiệc linh đình…” [3] thì Trần Hữu Dực vẫn để vợ con ở quê. Mặc dù, ai cũng biết rằng, ông rất thương và biết ơn vợ, người đã hơn 13 năm phải làm vợ của người tù cộng sản, phải dành những năm tháng tuổi trẻ của một thời con gái cho sự nhớ thương người chồng xa cách biền biệt, hết nhà lao Quảng Trị, Lao Bảo, Bình Thuận đến nhà đày Buôn Mê Thuột, không biết sống chết ra sao. Tuy nhiên, không vì thế mà ông lẫn lộn giữa việc riêng và việc chung.
Có một vài câu chuyện, sau này ông kể lại, thêm một lần nữa cho chúng ta thấy phẩm chất đáng quý đó của Trần Hữu Dực: “Có một lần, vợ tôi đưa đứa con trai 7 tuổi vào thăm tôi. Tôi đã bố trí một buổi đưa vợ tôi vào thăm cung điện nhà Vua, dẫn vợ tôi đi thăm khắp toà Khâm sứ sang trọng và lộng lẫy… Khi tôi đưa vợ con vào phòng nghỉ riêng của toà Khâm sứ Trung Kỳ, bấy giờ là phòng nghỉ riêng của Chủ tịch Trung Bộ, vợ tôi đã thốt lên kinh ngạc: “Nhà mình được ở đây à?” . Tôi đã vui vẻ trả lời ngay: “Không! nhà mình vẫn ở Dương Lệ Đông, Quảng Trị. Ngày mai, hai mẹ con lại về đấy”…[3] . Khi ông ở cương vị Phó Thủ tướng, hằng ngày đi làm được xe ô tô đưa đón, còn bà thì đi xe đạp (mặc dù bà cũng làm việc ở Phủ Thủ tướng). Nhiều người bảo sao không để vợ cùng đi, ông bảo: “Cùng đi sao được, ô tô và lái xe là tiêu chuẩn của Nhà nước phục vụ Phó Thủ tướng chứ không phải phục vụ gia đình” [4]. Ngay cả khi vợ con ốm đau, đi khám bệnh, ông cũng không dùng ô tô của cơ quan. Ông nhớ mãi, không quên một chữ, lời dạy của Bác Hồ hồi mới giành được chính quyền năm 1945 “Ông ủy viên đi xe hơi, rồi bà ủy viên cho đến các cô, các cậu ủy viên cũng đi xe hơi của ông. Thử hỏi hao phí đó ai phải chịu?” và ông tự bảo trước hết mình phải gương mẫu.
Ông Dương Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trong ký ức về cụ Trần Hữu Dực viết “Được làm việc với Cụ nhiều năm, tôi nghĩ Cụ là một con người đặc biệt. Cụ rất tận tụy với công việc, hết lòng hết sức với công việc, chứ không nghĩ gì khác, chỉ công việc và công việc thôi. Cụ rất liêm khiết, không bao giờ có suy nghĩ hay yêu cầu gì cho cá nhân mình. Tôi luôn noi gương Cụ một tấm gương sáng về sự tận tụy với công việc, về trách nhiệm và liêm khiết. Cụ sống rất giản dị, không đòi hỏi gì ở Nhà nước cho việc riêng của mình”.
Sinh thời, Trần Hữu Dực được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Ở cương vị nào ông cũng giữ được phẩm chất trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính của một người chiến sĩ cách mạng. Ông luôn rèn luyện, giữ bản chất của mình. Quan điểm của ông là “Hoạn bất tài. Hạ hoạn vô vị” (Nghĩa là : Lo bất tài. Không lo địa vị). Suốt cuộc đời hoạt cách mạng khi nào ông cũng tự răn mình “Phải sống sao cho xứng đáng là người cộng sản. Từ hai chữ cộng sản, đến Đảng Cộng sản, đảng viên Đảng Cộng sản, giai cấp vô sản, Chủ nghĩa Mác-Lê nin, chế độ xã hội chủ nnghĩa và rất nhiều vấn đề khác của Cách mạng, tất cả đều quy vào con người cộng sản”[5].



