NGƯỜI CHIẾN SĨ G.Ã.Y CẢ HAI CHÂN VẪN BÒ LÊN DIỆT ĐỊCH
“Các đồng chí phải nhanh chóng diệt sở chỉ huy địch… Tôi sẽ đ.á.n.h bọn địch ở gần!” — Lời hô quyết tử giữa mưa b.o.m đ.ạ.n lửa tại mặt trận Công Pông Thơm đã khắc ghi tên tuổi Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Hữu Giảng vào lịch sử dân tộc. 🇻🇳 Phan Hữu Giảng sinh năm 1949 tại xã Lê Hồng, huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Năm 1967, đồng chí lên đường nhập ngũ, trở thành chiến sĩ thuộc Trung đoàn 2, Sư đoàn 9 trên chiến trường Nam Bộ ác liệt. Dù nhiều lần bị thương hay chịu đựng những trận sốt rét rừng hành hạ, người chiến sĩ trẻ vẫn kiên quyết ở lại mặt trận. Tại trận Gò Nổi (8/9/1969), dù mang trên mình nhiều vết thương và m.á.u đổ, đồng chí vẫn bám đội hình đ.á.n.h địch suốt đêm và kiên trì dìu đồng đội vượt vòng vây. Đến trận Bàu Châu É (5/10/1969), khi trung đội chỉ còn lại 6 tay s.ú.n.g trước sức ép của một tiểu đoàn Mỹ, đồng chí đã chủ động thu s.ú.n.g đ.ạ.n địch để đáp trả, cùng đơn vị đ.á.n.h lùi quân địch và trực tiếp loại khỏi vòng chiến 40 tên. Khí tiết anh hùng ấy bùng cháy rực rỡ nhất trong trận Công Pông Thơm ngày 31/7/1971. Tiến vào công sự tiền duyên, Phan Hữu Giảng bị pháo địch bắn g.ã.y một bên chân. Từ chối về tuyến sau, đồng chí vừa bò vừa chỉ mục tiêu cho đồng đội và tự tay dùng thủ pháo san phẳng 4 hầm địch. Ngay sau đó, một quầng đ.ạ.n tiếp tục làm g.ã.y nốt chân còn lại. Bất chấp đau đớn tột cùng, người Trung đội phó vẫn dũng cảm lê thân mình đến bên đồng đội đã h.y s.i.n.h, lấy s.ú.n.g đ.ạ.n rồi trườn lên giữa làn đ.ạ.n xối xả ti.ê.u di.ệ.t các hỏa điểm địch cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Tinh thần chiến đấu phi thường của đồng chí đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn đơn vị xông lên làm chủ hoàn toàn trận địa. Ghi nhận những chiến công xuất sắc cùng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và 3 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ, ngày 19/5/1972, Phan Hữu Giảng đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy
“Các đồng chí phải nhanh chóng diệt sở chỉ huy địch… Tôi sẽ đ.á.n.h bọn địch ở gần!” — Lời hô quyết tử giữa mưa b.o.m đ.ạ.n lửa tại mặt trận Công Pông Thơm đã khắc ghi tên tuổi Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Hữu Giảng vào lịch sử dân tộc.
Phan Hữu Giảng sinh năm 1949 tại xã Lê Hồng, huyện Ninh Thanh, tỉnh Hải Hưng (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Năm 1967, đồng chí lên đường nhập ngũ, trở thành chiến sĩ thuộc Trung đoàn 2, Sư đoàn 9 trên chiến trường Nam Bộ ác liệt.
Dù nhiều lần bị thương hay chịu đựng những trận sốt rét rừng hành hạ, người chiến sĩ trẻ vẫn kiên quyết ở lại mặt trận. Tại trận Gò Nổi (8/9/1969), dù mang trên mình nhiều vết thương và m.á.u đổ, đồng chí vẫn bám đội hình đ.á.n.h địch suốt đêm và kiên trì dìu đồng đội vượt vòng vây. Đến trận Bàu Châu É (5/10/1969), khi trung đội chỉ còn lại 6 tay s.ú.n.g trước sức ép của một tiểu đoàn Mỹ, đồng chí đã chủ động thu s.ú.n.g đ.ạ.n địch để đáp trả, cùng đơn vị đ.á.n.h lùi quân địch và trực tiếp loại khỏi vòng chiến 40 tên.
Khí tiết anh hùng ấy bùng cháy rực rỡ nhất trong trận Công Pông Thơm ngày 31/7/1971. Tiến vào công sự tiền duyên, Phan Hữu Giảng bị pháo địch bắn g.ã.y một bên chân. Từ chối về tuyến sau, đồng chí vừa bò vừa chỉ mục tiêu cho đồng đội và tự tay dùng thủ pháo san phẳng 4 hầm địch.
Ngay sau đó, một quầng đ.ạ.n tiếp tục làm g.ã.y nốt chân còn lại. Bất chấp đau đớn tột cùng, người Trung đội phó vẫn dũng cảm lê thân mình đến bên đồng đội đã h.y s.i.n.h, lấy s.ú.n.g đ.ạ.n rồi trườn lên giữa làn đ.ạ.n xối xả ti.ê.u di.ệ.t các hỏa điểm địch cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.
Tinh thần chiến đấu phi thường của đồng chí đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn đơn vị xông lên làm chủ hoàn toàn trận địa. Ghi nhận những chiến công xuất sắc cùng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và 3 lần đạt danh hiệu Dũng sĩ, ngày 19/5/1972, Phan Hữu Giảng đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Sự h.y s.i.n.h phi thường của Anh hùng Phan Hữu Giảng không chỉ là minh chứng hùng hồn cho chí khí "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", mà còn gạt bỏ mọi giới hạn về sức chịu đựng của con người trước ngọn lửa yêu nước.
Cuộc đời ngắn ngủi nhưng lừng lẫy của ông để lại bài học vô giá cho thế hệ trẻ hôm nay về bản lĩnh vượt qua nghịch cảnh, lòng trung thành vô hạn với lý tưởng và trách nhiệm gìn giữ giá trị của độc lập, tự do mà biết bao thế hệ cha anh đã đánh đổi bằng xương m.á.u.



