Người chiến sĩ kiên trung và ký ức của những người đồng đội
Tháng 4-2025, gia đình Thiếu tướng Trần Thế Môn (1915–2009) – nguyên Chánh án Tòa án Quân sự Trung ương, nguyên Chính ủy Binh chủng Công binh – đã tổ chức buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước truy tặng. Sự kiện là dịp hội ngộ đầy xúc động của nhiều cựu chiến binh từng sát cánh, hoạt động cách mạng dưới sự chỉ huy của ông. Cùng với cuốn hồi ký “Một chặng đường cách mạng” – công trình được ông đúc kết và chỉnh lý suốt 19 năm – những ký ức về cuộc đời cống hiến kiên cường của vị tướng trận mạc lại được tái hiện sống động.
Sinh ra tại tỉnh Hà Nam, đồng chí Trần Thế Môn sớm rời quê hương làm thợ hỏa xa tại Hải Phòng và bắt đầu giác ngộ cách mạng qua phong trào đấu tranh công nhân. Tháng 11-1940, sau thời gian thử thách trong các phong trào bãi công đòi quyền lợi, ông vinh dự được đồng chí Lương Khánh Thiện kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Không lâu sau, vào tháng 4-1941, ông bị chính quyền thực dân bắt lần thứ hai, kết án 10 năm tù khổ sai và đày qua các nhà tù Sơn La, Chợ Chu, căng Bá Vân. Tại chốn lao tù khắc nghiệt, ông cùng các chiến sĩ cộng sản kiên định giữ vững khí tiết, xem nơi đây như trường học tôi luyện bản lĩnh và lý tưởng.
Đến tháng 9-1944, tận dụng thời cơ chín muồi, đồng chí Trần Thế Môn cùng 11 cán bộ cách mạng đã tổ chức vượt ngục thành công sau hơn hai ngày đêm băng rừng vượt suối. Trở về với căn cứ, ông gia nhập Phân khu Nguyễn Huệ rồi tăng cường cho Trung đội Cứu quốc quân 3. Trong cao trào tiền khởi nghĩa, ông trực tiếp chỉ huy các đội vũ tranh tuyên truyền, cùng nhân dân địa phương làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Thanh La (tháng 3-1945), xóa bỏ chính quyền tay sai và thành lập chính quyền cách mạng tại hàng loạt xã, tổng thuộc Tuyên Quang và các vùng lân cận. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông chỉ huy lực lượng tiến công, góp phần giải phóng hoàn toàn thị xã Tuyên Quang vào ngày 22-8-1945.
Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Thiếu tướng Trần Thế Môn luôn có mặt ở những chiến trường cam go nhất. Năm 1966, khi đã ngoài 50 tuổi, ông nhận trọng trách lên đường làm Chính ủy Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị. Trước ngày xuất quân, cuộc gặp gỡ và những lời căn dặn ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nguồn động lực to lớn giúp ông vững vàng vượt qua mưa bom bão đạn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cho đến ngày nghỉ hưu. Trong tâm trí đồng đội và cấp dưới, ông luôn là một người chỉ huy mẫu mực, nghiêm cẩn trong công việc nhưng vô cùng mộc mạc, chan chứa nghĩa tình trong đời sống thường nhật.



