Người chiến sĩ thầm lặng Nguyễn Văn Tấn
Người chiến sĩ thầm lặng Nguyễn Văn Tấn
Câu chuyện thời hoa lửa:
Người chiến sĩ thầm lặng Nguyễn Văn Tấn
Trong hành trình tìm về cội nguồn lịch sử và truyền thống cách mạng của quê hương Thành phố Thái Nguyên, chúng tôi đã có dịp được lắng nghe những câu chuyện được lưu giữ tại phòng truyền thống của địa phương, và đặc biệt là câu chuyện về người chiến sĩ cách mạng kiên trung Nguyễn Văn Tấn khiến chúng tôi không khỏi xúc động. Ông không trực tiếp xông pha nơi chiến hào, cũng không cầm súng đối mặt với quân thù, nhưng bằng sự âm thầm, bền bỉ và lòng tận tụy, ông đã góp phần giữ vững những tuyến giao thông huyết mạch, bảo đảm vũ khí, lương thực và nguồn tiếp tế đến với chiến trường. Trong khói lửa ác liệt của chiến tranh, những con người lặng thầm như ông đã trở thành mắt xích không thể thiếu, góp phần làm nên sức mạnh của hậu phương và tiếp thêm niềm tin cho tiền tuyến. Câu chuyện về Nguyễn Văn Tấn không chỉ giúp chúng tôi hiểu thêm về những hy sinh thầm lặng của một thế hệ đi trước mà còn khơi dậy niềm tự hào, lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm trong việc gìn giữ, phát huy những giá trị truyền thống cách mạng của quê hương.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tấn
Sinh năm 1942 trong một gia đình người dân tộc Tày, ông Nguyễn Văn Tấn lớn lên giữa núi rừng Việt Bắc với bản tính ham học hỏi và niềm say mê khám phá những cỗ máy từ khi còn nhỏ. Những bánh răng, động cơ hay bất cứ thiết bị nào cũng khơi dậy trong cậu bé vùng cao một sự tò mò đặc biệt. Năm 1965, khi đang đảm nhiệm công việc kế toán của hợp tác xã tại quê hương, đất nước bước vào giai đoạn khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tiếng gọi của Tổ quốc vang lên như một mệnh lệnh từ trái tim. Gác lại cuộc sống bình yên, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ, mang theo khát vọng được góp sức mình bảo vệ non sông.
Sau nhiều tháng rèn luyện tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bắc Kạn (cũ), ông được giao nhiệm vụ bảo vệ cầu An Phú, một công trình giao thông có ý nghĩa quan trọng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Không lâu sau, nhận thấy năng lực và niềm đam mê kỹ thuật của ông, năm 1967 quân đội cử ông theo học Trung cấp Cơ điện, chuyên ngành sửa chữa xe tăng và xe kéo pháo. Đây là bước ngoặt đưa ông đến với công việc thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng trên chiến trường.
Tốt nghiệp khóa học, ông được điều động về Cục Quản lý xe, Tổng cục Hậu cần (Bộ Quốc phòng). Từ đó, dấu chân người lính kỹ thuật Nguyễn Văn Tấn in đậm trên nhiều chiến trường ác liệt, từ Nghệ An đến Buôn Ma Thuột. Giữa tiếng bom rền và khói lửa chiến tranh, ông cùng đồng đội ngày đêm sửa chữa những chiếc xe đặc chủng, khắc phục hư hỏng ngay trên đường hành quân, bảo đảm phương tiện vận tải và xe chiến đấu luôn kịp thời lăn bánh ra tiền tuyến. Mỗi động cơ được hồi sinh, mỗi chuyến xe tiếp tục vượt qua mưa bom bão đạn đều mang theo biết bao hy vọng và góp phần giữ vững mạch máu giao thông, tiếp sức cho những chiến thắng của quân và dân ta.
Nhắc về những năm tháng chiến tranh đó là những tháng ngày gian khổ đến mức khó có thể hình dung đối với thế hệ hôm nay. Giữa núi rừng và bom đạn, cuộc sống của người lính hậu cần luôn trong cảnh bữa đói, bữa no. Để tránh sự phát hiện của máy bay địch, cả đơn vị phải đào những hố sâu rộng như chiếc ao nhỏ làm nơi ăn, ở và sửa chữa phương tiện. Phía trên chỉ được che bằng một tấm bạt, phủ kín lá cây để ngụy trang. Mỗi khi mưa lớn, nước tràn ngập căn hầm, người lính chỉ còn biết đứng suốt nhiều giờ liền, mặc cho quần áo ướt sũng và cái lạnh thấm vào da thịt.
Điều kiện thiếu thốn khiến mọi công việc đều trở thành một thử thách. Không có đủ vật tư, không có linh kiện thay thế, thậm chí đến một mảnh giẻ lau dùng trong sửa chữa xe cũng là thứ xa xỉ. Ông và đồng đội phải cắt chính ống tay áo, ống quần của mình để làm giẻ lau máy. Những chi tiết hỏng hóc không có phụ tùng thay thế thì tự mày mò chế tạo, dùng săm cao su làm phớt chắn dầu, tận dụng từng con ốc, từng mảnh sắt còn sót lại để ghép nối, phục hồi những chiếc xe tưởng chừng không thể hoạt động. Trong tiếng bom rền không ngớt, những người lính kỹ thuật vẫn miệt mài tháo lắp từng bộ phận, thức trắng nhiều đêm để giành giật sự sống cho những cỗ máy sẽ tiếp tục lao vào chiến trường.
Đối với ông Nguyễn Văn Tấn, mỗi chiếc xe được sửa chữa thành công không đơn thuần là hoàn thành một nhiệm vụ kỹ thuật. Đó là thêm một khẩu pháo được kéo ra trận địa, thêm một chuyến hàng kịp đến tiền tuyến, thêm một cơ hội để đồng đội chiến đấu và chiến thắng. Ông từng xúc động chia sẻ: "Sửa được một chiếc xe là mừng đến rơi nước mắt. Trong những năm tháng ác liệt ấy, mỗi chiếc xe hoạt động trở lại đồng nghĩa với việc đồng đội của mình lại có phương tiện, có vũ khí để tiếp tục chiến đấu."
Từ năm 1967 đến năm 1973, dấu chân người lính kỹ thuật Nguyễn Văn Tấn theo đơn vị đi qua nhiều chiến trường khốc liệt. Ở bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần, ông và đồng đội đều có mặt, âm thầm bảo đảm kỹ thuật cho những đoàn xe, những phương tiện đặc chủng ngày đêm vượt mưa bom bão đạn. Sự tận tụy, tinh thần trách nhiệm và ý chí vượt khó của ông đã được ghi nhận bằng nhiều năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.
Tháng 12 năm 1973, khi đang công tác tại Quảng Bình, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn còn diễn ra quyết liệt, ông Nguyễn Văn Tấn vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đó không chỉ là phần thưởng dành cho riêng ông mà còn là sự ghi nhận đối với biết bao người lính hậu cần, những con người lặng thầm phía sau chiến tuyến, đã cống hiến bằng trí tuệ, lòng quả cảm và những hy sinh không tên để làm nên thắng lợi của dân tộc.
Những năm tháng không quên
Khi nhắc về cuộc đời quân ngũ, Anh hùng Nguyễn Văn Tấn không kể nhiều về những tấm huân chương hay danh hiệu cao quý. Điều ông luôn nhắc đến trước tiên là niềm tự hào vì đã được góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và những nghĩa tình không bao giờ phai nhạt giữa đồng đội với đồng đội, giữa quân với dân trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.
Là người lính kỹ thuật, ông không trực tiếp xung phong trên mũi tiến công, nhưng mỗi nhiệm vụ đều đối mặt với hiểm nguy. Có những ngày ông cùng đồng đội lặng lẽ tiến vào những khu vực vừa diễn ra giao tranh để thu hồi xe tăng, xe kéo pháo và vũ khí của địch. Có những đêm tối mịt mùng, họ tham gia phá bom từ trường, nơi chỉ một sai sót rất nhỏ cũng đủ đánh đổi bằng cả mạng sống.
Trong ký ức của ông vẫn còn nguyên vẹn một buổi chiều năm 1971. Hôm ấy, đơn vị dừng chân nghỉ bên đường sau một chặng hành quân dài mà không hề biết gần đó có đặt một cây nhiệt đới – thiết bị phát tín hiệu dẫn đường cho máy bay địch. Chỉ ít phút sau, từng tốp máy bay gầm rú lao đến trút bom xuống khu vực. May mắn thay, ngay cạnh nơi đơn vị đóng quân là một vực sâu. Những quả bom rơi xuống lòng vực rồi phát nổ dữ dội, khói bụi phủ kín cả vùng trời, nhưng toàn đơn vị vẫn giữ được tính mạng trong gang tấc.
Năm 1972, khi tham gia phục vụ Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, ông cùng đồng đội tiếp tục đối mặt với thử thách cam go. Đoàn xe phải hành quân xuyên đêm qua một khu vực vừa bị máy bay B-52 rải bom. Khi gần vượt qua bãi bom, một chiếc xe bất ngờ chết máy. Giữa thời khắc sinh tử, mọi người chỉ kịp mắc sẵn dây cáp chờ những xe phía sau cứu kéo. Chiếc xe xích kéo pháo quá nặng khiến lần lượt nhiều phương tiện không thể đưa ra khỏi vùng nguy hiểm. Mãi đến chiếc xe thứ bảy đi qua, việc cứu kéo mới thành công. Khi đoàn xe vừa rời khỏi khu vực thì cũng là lúc những đợt ném bom tiếp theo của địch chuẩn bị trút xuống.
Cũng trong năm ấy, tại chiến trường Quảng Trị, sự bình tĩnh và nhạy bén của người lính kỹ thuật đã cứu sống cả đơn vị. Trong một lần đi thu hồi phương tiện của địch, vừa đặt chân đến khu vực xe hỏng, ông Nguyễn Văn Tấn bất ngờ ngửi thấy mùi nước hoa thoảng trong gió. Giữa chiến trường khốc liệt, mùi hương ấy là điều hết sức bất thường. Linh cảm có điều không ổn, ông lập tức ra hiệu cho đồng đội dừng lại, bí mật quan sát. Quả đúng như dự đoán, quân địch đang phục kích gần đó. Nhờ phát hiện kịp thời, cả đơn vị lặng lẽ rút lui an toàn, tránh được một trận đánh đầy nguy hiểm.
Thế nhưng, điều khiến ông xúc động nhất sau hơn nửa thế kỷ không phải là những lần thoát chết trong gang tấc, mà chính là tình đồng đội và nghĩa tình quân dân sâu nặng.
Một ký ức khác vẫn luôn khiến ông nghẹn ngào mỗi khi nhắc lại. Năm 1972, trong lúc đơn vị đang sửa chữa xe thì máy bay địch bất ngờ oanh tạc. Một người đồng đội đã anh dũng hy sinh. Không có quan tài, mọi người lặng lẽ nhặt những hòm đạn bỏ lại trên chiến trường, ghép thành chiếc áo quan tạm để tiễn đưa đồng chí. Khi công việc gần hoàn thành, một cụ già người Vân Kiều đi ngang qua. Biết chuyện, cụ không ngần ngại mang tặng đơn vị chiếc áo quan bằng gỗ tốt mà gia đình đã chuẩn bị sẵn. Nghĩa cử giản dị ấy khiến cả đơn vị lặng người. Nước mắt của những người lính hòa cùng tấm lòng của đồng bào giữa chiến tranh đã tạo nên một kỷ niệm không bao giờ phai mờ. Đến tận hôm nay, dù cụ đã đi xa, những người lính năm xưa vẫn giữ mối liên hệ với con cháu của cụ như những người thân trong gia đình.
Rồi ông kể về một lần khác tại Thành cổ Quảng Trị. Một người đồng đội trong lúc thu hồi phương tiện của địch đã trúng bom và hy sinh. Người dân địa phương đã đứng ra lo liệu tang lễ, sẵn sàng dành một góc vườn của gia đình để chôn cất người chiến sĩ vô danh. Chỉ đến khi đất nước hòa bình, gia đình liệt sĩ mới có điều kiện trở lại đưa anh về với quê hương.
Khép lại câu chuyện, ông Nguyễn Văn Tấn lặng đi vài giây rồi chậm rãi nói rằng, điều quý giá nhất ông mang theo suốt cuộc đời không chỉ là những chiến công, mà còn là tình người nồng ấm giữa khói lửa chiến tranh. Ở bất cứ nơi nào đơn vị dừng chân, Nhân dân cũng coi bộ đội như con em ruột thịt, sẵn sàng sẻ chia từ bát cơm, manh áo đến cả những điều quý giá nhất. Chính tình quân dân son sắt ấy đã trở thành điểm tựa tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để những người lính vượt qua mọi gian khổ, góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc.


