Người chiến sĩ thông tin trên tuyến lửa Quảng Trị
Ông Nguyễn Tất Hà nhập ngũ năm 1977, công tác tại Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 với nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc trên chiến trường biên giới Tây Nam và sau đó làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Trong ký ức của ông, những năm tháng ở chiến trường Quảng Trị rồi hành quân sang tỉnh Kampong Cham là quãng đời không thể nào quên. Giữa bom đạn và thiếu thốn, điều ông nhớ nhất không phải là chiến công mà là tình đồng đội và những đêm thức trắng giữ mạch liên lạc cho đơn vị. Với nhiều năm cống hiến, ô
Những ngày đầu gặp bác Nguyễn Tất Hà, tôi luôn ấn tượng bởi giọng nói chậm rãi, trầm ấm của một người lính từng đi qua chiến tranh. Bác bảo mình thuộc lớp thanh niên nhập ngũ sau ngày đất nước thống nhất, khi tiếng súng chống Mỹ vừa ngừng chưa bao lâu thì biên giới Tây Nam lại bùng cháy. Năm 1977, chàng trai quê Thanh Hóa khi ấy vừa tròn mười chín tuổi đã khoác ba lô lên đường về Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Bác kể:
“Ngày đó thanh niên tụi bác đi bộ đội đơn giản lắm. Không ai nghĩ nhiều cho bản thân. Chỉ nghĩ đất nước cần thì mình đi thôi.” Sau thời gian huấn luyện, bác được phân công làm chiến sĩ thông tin. Công việc của bác là kéo dây, giữ liên lạc giữa các đơn vị chiến đấu. Đó là nhiệm vụ thầm lặng nhưng vô cùng nguy hiểm, bởi hễ dây đứt là phải lao ra nối giữa bom đạn. Cuối năm 1978, đơn vị bác hành quân vào chiến trường Quảng Trị rồi tiếp tục cơ động vào biên giới Tây Nam. Những cánh rừng cháy nắng, những con đường ngập bùn và cả những đêm phục kích trở thành ký ức không bao giờ quên. Bác cười hiền rồi kể:
“Có lần bác với một đồng đội đang nối dây điện thoại dã chiến thì pháo rơi ngay bên cạnh. Đất đá bay mù trời. Tỉnh dậy thấy tai ù đặc, người bê bết bùn đất. May mà cả hai còn sống.” Rồi bác im lặng vài giây trước khi nói tiếp:
“Chiến tranh là vậy, sống chết chỉ cách nhau một khoảnh khắc.” Điều khiến bác nhớ nhất lại không phải những trận đánh mà là tình đồng đội. Một đêm mùa mưa ở Kampong Cham, đơn vị thiếu lương thực nhiều ngày. Một chiến sĩ trẻ sốt rét run cầm cập. Anh em thay nhau nhường từng ngụm nước, từng nắm cơm sấy. “Lúc đó chỉ cần nghe tiếng đồng đội hỏi: ‘Mày còn sống không?’ là thấy ấm lòng lắm rồi.” — bác kể. Có lần đơn vị hành quân xuyên rừng suốt ba ngày liền. Đêm xuống, cả tiểu đội mắc võng giữa rừng, không dám đốt lửa vì sợ lộ vị trí. Tiếng côn trùng hòa với tiếng súng vọng xa xa khiến ai cũng thao thức. Bác bảo thời ấy người lính trẻ nào cũng nhớ nhà, nhưng chẳng ai dám nói ra. Sau nhiều năm quân ngũ, bác tiếp tục công tác trong quân đội cho đến năm 2006 mới nghỉ hưu. Trên chiếc tủ gỗ cũ trong căn nhà nhỏ vẫn còn những tấm huân chương được bác giữ gìn cẩn thận. Nhưng với bác, phần thưởng lớn nhất không nằm ở những tấm bằng khen. Bác nhìn xa xăm rồi nói:
“Điều quý nhất là sau chiến tranh mình còn sống trở về, còn gặp lại đồng đội, còn được thấy đất nước bình yên.” Nghe bác kể chuyện, tôi hiểu rằng “thời hoa lửa” không chỉ là những năm tháng chiến đấu gian khổ mà còn là tuổi trẻ đẹp nhất của một thế hệ đã sống hết mình vì Tổ quốc.



