NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN TRÊN TUYẾN LỬA TRỊ THIÊN
Bác Nguyễn Xuân Bảo nhập ngũ năm 1963, khi đất nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Là cán bộ chính trị của Trung đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 330, bác chiến đấu lâu năm tại chiến trường Trị Thiên – Huế, nơi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau một làn mưa bom. Với bác, chiến tranh không chỉ là trận đánh mà còn là cuộc chiến giữ vững niềm tin cho đồng đội. Những ký ức ấy theo bác suốt đời, như một phần máu thịt.
Tôi gặp bác Nguyễn Xuân Bảo vào một buổi chiều yên ả ở thôn Hạ Vũ 1. Bác ngồi trước hiên nhà, dáng người gầy nhưng thẳng, ánh mắt đã mờ theo năm tháng song vẫn ánh lên sự cương nghị của một người từng đi qua chiến tranh. Khi nhắc đến quãng đời quân ngũ, bác trầm ngâm rất lâu rồi mới nói:
“Cả tuổi thanh xuân của bác gửi lại chiến trường Trị Thiên, nơi đất cũng thấm mồ hôi, máu và nước mắt của bao người.”
Năm 1963, chàng trai Nguyễn Xuân Bảo rời quê nhập ngũ, biên chế vào Trung đoàn bộ binh, Sư đoàn 330, tham gia chiến trường Trị Thiên – Huế, một trong những chiến trường khốc liệt nhất miền Trung. Bác được giao nhiệm vụ cán bộ chính trị đại đội, cấp bậc tương đương Trung úy, phụ trách công tác tư tưởng, động viên bộ đội trong hành quân và chiến đấu.
Bác kể, nhiều người nghĩ chính trị viên chỉ nói chuyện, nhưng thực tế là:
“Đạn bom không chừa ai cả. Chính trị viên cũng phải xung phong, phải sống cùng anh em thì lời nói mới có sức nặng.”
Những năm cuối thập niên 1960, địch đánh phá dữ dội, rừng Trị Thiên ngày đêm rung chuyển bởi pháo hạm và bom B-52. Có những đợt hành quân kéo dài hàng tháng, ăn sắn rừng, uống nước khe, sốt rét rừng quật ngã từng người. Bác nhớ nhất một lần đơn vị bị vây ép, thương vong nhiều, tinh thần chiến sĩ dao động. Đêm ấy, giữa rừng mưa, bác nhóm lửa, đọc thư Bác Hồ và kể chuyện quê nhà cho anh em nghe.
“Bác nói với họ: mình ngã xuống thì làng quê sau lưng sẽ được sống. Không ai rời hàng ngũ cả.”
Chính trong những ngày tháng ấy, bác được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, xem đó là lời thề trọn đời với Tổ quốc. Sau ngày đất nước thống nhất, bác tiếp tục công tác trong quân đội đến năm 1980 mới xuất ngũ. Với 17 năm quân ngũ, bác được trao Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhì và nhiều bằng khen của Quân khu.
Kể xong, bác lặng im hồi lâu rồi khẽ nói:
“Chiến tranh qua rồi, nhưng ký ức thì không bao giờ cũ. Nó nhắc bác phải sống cho xứng với những người đã nằm lại.”



