Người có công giúp đỡ cách mạng

Người có công (10)

Bài dự thi: “Những câu chuyện thời hoa lửa” Lương Ngọc Quyến (tên chữ là Lương Lập Nham) sinh năm 1885 tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Ông là con trai thứ hai của nhà yêu nước Lương Văn Can – một trong những nhân vật cốt cán của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục những năm 1907–1908. Lớn lên trong gia đình giàu truyền thống yêu nước, ông sớm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng tân học và tinh thần cải cách của cha cùng các bậc chí sĩ đương thời. Năm 1900, sau khi bị đánh trượt trong

Thái Nguyên14/04/2026Trần Thị Ngọc Linh (Trường Ngoại Ngữ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bài dự thi: “Những câu chuyện thời hoa lửa”



Lương Ngọc Quyến (tên chữ là Lương Lập Nham) sinh năm 1885 tại làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Ông là con trai thứ hai của nhà yêu nước Lương Văn Can – một trong những nhân vật cốt cán của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục những năm 1907–1908.
Lớn lên trong gia đình giàu truyền thống yêu nước, ông sớm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng tân học và tinh thần cải cách của cha cùng các bậc chí sĩ đương thời.

Năm 1900, sau khi bị đánh trượt trong kỳ thi khoa cử phong kiến, Lương Ngọc Quyến nhận ra con đường học vấn theo lối cựu học đã lỗi thời,
không còn phù hợp với khát vọng giải phóng dân tộc. Từ đó, ông quyết tâm chuyển hướng sang con đường tân học để tìm lối đi mới cho đất nước.
Năm 1905, ông lên đường sang Nhật Bản tham gia phong trào Đông Du do nhà cách mạng Phan Bội Châu khởi xướng.

Dưới ảnh hưởng của Phan Bội Châu, Lương Ngọc Quyến chuyên tâm học tập tại trường quân sự Nhật Bản trong 3 năm và tốt nghiệp với vị trí thứ ba.
Không chỉ tiếp thu kiến thức quân sự, ông còn mở rộng quan hệ với các nhà cách mạng Đông Á, tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ,
từng bước định hình con đường cách mạng cho riêng mình. Thời kỳ này, ông trở thành một trong những nhân vật trụ cột của phong trào Đông Du.

Năm 1914, trước áp lực của thực dân Pháp, Nhật Bản trục xuất các nhà yêu nước Việt Nam.
Lương Ngọc Quyến không trở về nước mà sang Trung Quốc, tham gia vào tổ chức Việt Nam Quang phục hội và được bầu làm Ủy viên Quân sự Bộ chấp hành.
Tuy nhiên, cũng trong năm 1914, ông bị chỉ điểm, bị mật thám Anh bắt giao cho Pháp và bị áp giải về nước năm 1915.
Thực dân Pháp đã kết án tù chung thân và giam giữ ông tại các đề lao Sơn Tây, Phú Thọ rồi đưa về Hỏa Lò.

Năm 1916, thực dân Pháp đày ông lên nhà lao Thái Nguyên với ý đồ dập tắt ý chí của người chiến sĩ yêu nước trong hoàn cảnh khắc nghiệt.
Dù bị tra tấn dã man, bại liệt nửa người sau hơn một năm đọa đày, Lương Ngọc Quyến vẫn giữ vững tinh thần,
bí mật liên lạc và giác ngộ binh sĩ yêu nước, tiêu biểu là Trịnh Văn Cấn (tức Đội Cấn), từng bước xây dựng kế hoạch khởi nghĩa.

Sự gặp gỡ giữa Lương Ngọc Quyến và Đội Cấn đã dẫn tới cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên đêm 30, rạng sáng ngày 31/8/1917.
Trong bối cảnh lực lượng quân Pháp và Âu Phi tại Thái Nguyên lên tới 1800 người, chế độ cai trị vô cùng hà khắc,
sự kết hợp giữa tài thao lược quân sự và tầm nhìn chiến lược đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đáng kể.

Cuộc khởi nghĩa bùng nổ, gây tiếng vang lớn trong cả nước. Tuy nhiên, sáng ngày mồng 4 tháng 9 năm 1917,
quân Pháp tấn công vào trung tâm tỉnh lỵ. Trong lúc trực tiếp chỉ huy chiến đấu tại trận địa trại lính khố xanh
(nay thuộc xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên), Lương Ngọc Quyến bị thương và anh dũng hi sinh.

Dù cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên cuối cùng không thành công, nhưng đã trở thành mốc son quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam,
khơi dậy tinh thần đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân. Hơn một thế kỷ trôi qua, tên tuổi Lương Ngọc Quyến vẫn sáng ngời
như biểu tượng của lòng quả cảm, ý chí kiên cường và tinh thần dấn thân vì độc lập dân tộc.

Năm 2017, nơi yên nghỉ của danh nhân Lương Ngọc Quyến được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh,
trở thành địa chỉ giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn