Người có công giúp đỡ cách mạng (8)
NHỮNG CÂU CHUYỆN “ THỜI HOA LỬA” “ Có nơi nào như đất nước chúng ta Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ Khi giặc đến vạn người con quyết tử Cho một lần tổ quốc được sinh ra “ Có những cuộc đời đã hóa thành dáng hình đất nước. Có những tuổi thanh xuân đã rực cháy như những đóa hoa lửa cho đất nước nở hoa, độc lập, kết trái tự do. Những câu chuyện của họ, những kí ức của một thời chiến đấu oanh liệt chính là di sản thiêng liêng nhất mà chúng ta được trao truyền. Đúng như Nguyễn Nhật Ánh đ
NHỮNG CÂU CHUYỆN “ THỜI HOA LỬA”
“ Có nơi nào như đất nước chúng ta
Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ
Khi giặc đến vạn người con quyết tử
Cho một lần tổ quốc được sinh ra “
Có những cuộc đời đã hóa thành dáng hình đất nước. Có những tuổi thanh xuân đã rực cháy như những đóa hoa lửa cho đất nước nở hoa, độc lập, kết trái tự do. Những câu chuyện của họ, những kí ức của một thời chiến đấu oanh liệt chính là di sản thiêng liêng nhất mà chúng ta được trao truyền. Đúng như Nguyễn Nhật Ánh đã từng viết: “ Thời gian chưa bao giờ là bạn tốt của con người. Thời gian biến tóc ta thành hoa lau, nhuộm hồn ta thành lá đỏ. Và đến một ngày nào đó nó sẽ biến đời ta thành mây trắng lang thang “. Dẫu vậy trong dòng chảy vốn bất tận của thời gian, trong những năm tháng về một thời hoa lửa ấy, có những con người đã sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, tình yêu và ước mơ để cống hiến máu xương và làm nên mùa xuân cho đất nước. Một trong số những người đã làm “ nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng “ ấy chính là vị Đại Tướng huyền thoại “ Võ Nguyên Giáp “ – người đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ gây chấn động toàn thế giới.
Đại Tướng “ Võ Nguyên Giáp “ sinh ngày 25/08/1911, tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, tỉnh Quảng Bình – là vị Đại Tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Xuất thân từ một thầy giáo dạy môn lịch sử, ông đã trở thành người viết nên lịch sử, tuy chưa từng trải qua một khóa huấn luyện quân sự chuyên nghiệp, nhưng ông đã đánh bại hơn 10 vị tướng tài của kẻ địch và khiến cho không một vị tướng Pháp và Mỹ nào được nở nụ cười nên mảnh đất hình chữ S.
Trong đời cầm quân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dẫn dắt đội quân cách mạng, khởi đầu là 34 chiến sĩ trong đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với súng kíp, chân đất lớn lên thành đội quân thiện chiến, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954 và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là những ví dụ điển hình. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có công rất lớn, góp phần xứng đáng vào việc hình thành một học thuyết quân sự độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh để chiến thắng những đội quân hiện đại, khẳng định được lối tư duy chiến lược quân sự vượt trội của ông. Ngày 20-11-1953, Pháp mở cuộc hành quân đánh chiếm Điện Biên Phủ, từng bước xây dựng nơi đây thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Chúng cho rằng đây là "pháo đài khổng lồ không thể công phá", tướng Giáp sẽ “không dám chấp nhận giao chiến”, vì Quân đội Việt Minh chưa bao giờ tiến công một tập đoàn cứ điểm lớn đến như vậy, nếu tiến công vào Điện Biên Phủ sẽ đi vào con đường tự sát.
Lựa chọn Điện Biên Phủ là chiến trường quyết chiến, chiến lược thực chất là ta đã chọn hướng tiến công chiến lược chủ yếu vào nơi địch mạnh, thể hiện sự phát triển mới về nghệ thuật tác chiến, chiến dịch của ta giai đoạn 1953-1954, là sự chuyển biến từ phương hướng “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” sang đánh thẳng vào chỗ mạnh nhưng có nhiều sơ hở của địch, từ tác chiến vận động và công kiên nhỏ là chủ yếu sang đánh công kiên quy mô lớn mang tính chất trận địa.
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp, hạ quyết tâm: "Tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tạo nên một bước ngoặt mới trong chiến tranh". Ngày 1-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tư lệnh được giao nhiệm vụ làm Chỉ huy trưởng Chiến dịch kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ.
Ngày 12-1-1954, tại Tuần Giáo, Đại tướng nghe đồng chí Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng Chiến dịch báo cáo. Đảng ủy Mặt trận và tất cả đều tán thành phương châm Chiến dịch là "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Cố vấn Trung Quốc Vi Quốc Thanh cũng khẳng định: Nếu không tranh thủ đánh sớm khi địch còn đứng chân chưa vững, để nay mai chúng tăng quân và củng cố công sự thì không đánh được, ta sẽ bỏ mất thời cơ. Rõ ràng, mặc dù là Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận, nhưng số đông lại có ý kiến khác là điều Đại tướng phải cân nhắc. Ông nhớ lời Bác dặn trước lúc ra mặt trận “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Hơn thế, mọi công tác chuẩn bị đều phải làm lại từ đầu, những khó khăn về cung cấp, vận tải tiếp tế khi mùa mưa đến... sẽ tăng lên. Nhưng không thể vì những khó khăn, trở ngại do Chiến dịch kéo dài mà chọn cách đánh không bảo đảm chắc thắng.
Đại tướng kết luận: Đánh theo phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” nhất định thất bại và quyết định chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định sáng suốt mang đậm nhãn quan quân sự cá nhân sắc sảo, bản lĩnh, dũng cảm, quyết đoán, táo bạo, sáng suốt, thể hiện trách nhiệm rất cao trước thắng lợi của Chiến dịch và xương máu cán bộ, chiến sĩ của người cầm quân; yếu tố quyết định bảo đảm thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Có thể nói “ thời hoa lửa “ là một thời đại mà vẻ đẹp của tuổi trẻ hòa quyện, rực rỡ giữa khói lửa chiến tranh. Đó là thế hệ thanh niên “ xếp bút nghiêng theo việc đao cung “, hiến dâng cho Tổ Quốc. Thế nhưng, xin đừng vội gọi “ chiến tranh “ bằng mỹ từ “ thời hoa lửa “. Bởi đằng sau mỗi chữ “ hoa “ không phải là màu sắc rực rỡ của thi ca mà là tiếng nấc nghẹn đứt ruột của người mẹ mất con, là tiếng đất vỡ òa của nấm mộ vừa mới lấp xong, là tiếng gọi mẹ ơi vĩnh viễn chẳng có lời đáp. Và phía sau mỗi chữ “ lửa “ kia chẳng phải là ánh sáng rực rỡ của chiến thắng mà là ánh nhìn cuối cùng chưa kịp khép lại, là đôi mắt tuổi 18 chưa một lần được nhìn thấy hòa bình, là một trái tim chưa kịp yêu, chưa kịp sống trọn lấy một ngày không có tiếng súng. Lịch sử dân tộc đã từng chứng kiến một Việt Nam gầy guộc mà bất khuất, nhỏ bé về vóc dáng nhưng lại lớn lao trong khí phách. Máu không ngừng chảy nhưng trái tim lại chẳng một lần bị khuất phục. Từng lớp người đã lặng lẽ nối nhau ra trận, từ người nông dân chân lấm tay bùn, đến bậc sĩ áo vải khăn nâu, từ người miền xuôi ồn ào đến miền đảo xa bằng tiếng người. Chỉ cần tổ quốc cất lời gọi, họ sẵn sàng sống và cũng sẵn sàng chết. Máu đỏ và lí tưởng sáng hòa vào nhau, “ Lửa “ và “ Hoa “ gia cố ở những vần thơ đẹp đẽ đến nhói lòng.
Thế hệ trẻ hôm nay là những nhà tiên phong trẻ, là những chủ nhân tương lai của đất nước. “ Họ khom lưng, cúi gối đi trong đêm tối. Để hôm nay, chúng ta được thẳng lưng ngắm nhìn bầu trời tự do “. Nếu thế hệ đi trước là người thắp lửa thì mỗi chúng ta phải là người giữ lửa và phát huy những truyền thống, giá trị văn hóa đẹp đẽ, đầy hào hùng và đáng tự hào của dân tộc Việt Nam. Quả thực, hòa bình không chi đơn giản là không còn chiến tranh nữa, mà nó là sự sống nãy mầm từ những đổ vỡ, là sự hòa quyện giữa niềm vui và nỗi buồn, là sự đối lập giữa tàn khốc và bình yên, để mỗi gam màu bình dị ngày nay càng thêm quý giá.
Sứ mệnh của chúng ta là biến mỗi cuộc gặp gỡ thành một cuộc giao duyên giữa hai thế hệ, để từng kỷ vật, từng giọt nước mắt và nụ cười của quá khứ được sống lại trọn vẹn. Tôi tin rằng, khi những trang sử sống ấy được lan tỏa, ngọn lửa cua lòng yêu nước, của niềm tự hào và khát vọng cống hiến sẽ được thắp lên rực rỡ, gìn giữ đến tận mai sau và trở thành một bản hùng ca bất tử.



