Người con Anh hùng của núi Xà Nu
Từ người lính trở về từ cõi chết đến biểu tượng sống của lòng trung nghĩa, Anh hùng LLVT Hồ Thanh Lâm là niềm tự hào của đồng bào vùng cao Trà My (thành phố Đà Nẵng), người trọn đời trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân.
Giữa bom đạn vẫn sáng niềm tin
Sinh năm 1948 tại làng Xà Nu, nay thuộc xã Trà Giáp, Anh hùng LLVT Hồ Thanh Lâm, thương binh hạng 4/4, người con dân tộc Co lớn lên giữa núi rừng Trà My hùng vĩ, nơi khói lửa chiến tranh phủ kín đèo dốc. Cha mẹ ông, những người nông dân nghèo sớm gắn bó với ruộng rẫy, đã đặt cho con trai họ Hồ, cái họ mang ý nghĩa thiêng liêng, gửi gắm ước nguyện con mình sẽ sống trọn đời noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Và quả thật, trong cậu bé Lâm năm ấy đã cháy bỏng ngọn lửa căm thù giặc, khát vọng tự do và một lòng hướng về cách mạng.

Năm 1966, khi quê hương còn chìm trong bom đạn, Hồ Thanh Lâm gia nhập lực lượng vũ trang địa phương, bắt đầu quãng đời chiến đấu kiên cường, gắn bó trọn vẹn với cách mạng. Tháng 5 năm 1968, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam khi mới chớm tuổi 20, dấu mốc thiêng liêng mở đầu hành trình 57 năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, suốt đời phấn đấu, rèn luyện theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác Hồ.
Theo sử liệu lực lượng vũ trang huyện Trà My (Quảng Nam cũ), hè năm 1972, Đại đội 73, đơn vị bộ đội địa phương huyện do ông Hồ Thanh Lâm chỉ huy đã anh dũng chặn đánh địch ở vùng Phước Lâm (Tiên Phước cũ). Cuộc giao chiến ác liệt, quân thù có vũ khí hiện đại yểm trợ, song nhờ mưu trí, gan dạ, và ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đơn vị của ông đã tiêu diệt 12 tên địch, giữ vững địa bàn giải phóng.
Sau trận đánh, vùng tạm chiếm bị phong tỏa, truy lùng gắt gao. Ông Lâm bị thương nặng, gãy chân phải, mất máu nhiều, phải ẩn mình giữa rừng sâu suốt 12 ngày đêm ở vùng núi Dương Bồ và Dương Lâm. Vết thương hoại tử, hơi thở thoi thóp, song người lính kiên cường ấy vẫn cắn răng chịu đựng, giữ vững lời thề “Còn một giọt máu cũng chiến đấu vì Đảng, vì dân”. Đêm xuống, ông lết từng bước ra khe suối Dung (vùng Dương Lâm) tìm nước, hái lá rừng cầm hơi, vừa tránh thú dữ vừa lẩn địch phục kích.
Trong khi đó, tại đơn vị, đồng đội tin rằng ông đã hy sinh. Thế nhưng đến ngày thứ 12, khi thấy tín hiệu an toàn từ người dân đi rừng, ông ra hiệu cầu cứu và được giải cứu, đưa về trạm quân y điều trị. Câu chuyện “trở về từ cõi chết” ấy được ông Nguyễn Văn Nghĩa, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp tăng cường từ miền Bắc, kể lại trong hồi ức về những người đồng chí anh dũng ở Trà My.

Ông Nghĩa, người từng sát cánh cùng Đại đội 73, vẫn nhắc: “Hồ Thanh Lâm là người lính quả cảm và là linh hồn của đơn vị. Ông sống vì đồng đội, vì Nhân dân, sẵn sàng gánh phần nguy hiểm nhất về mình”. Câu nói ấy như tấm gương soi sáng phẩm chất người đảng viên trung kiên: Can trường với giặc, hiền hậu với dân, một lòng vì Đảng.
Người anh hùng giữa đời thường
Trong suốt gần mười năm chiến đấu (11/1966 – 4/1974), Hồ Thanh Lâm cùng đồng đội dọc ngang khắp chiến trường Trà My. Ở đâu có giặc, ở đó có ông, người đại đội trưởng đại đội 73, huyện đội Trà My luôn đi đầu trong những trận đánh sinh tử. Ông chỉ huy đơn vị tiêu diệt 330 tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh; riêng bản thân trực tiếp diệt 55 tên, bắn rơi 2 máy bay, bắt sống 2 tù binh.
Những trận đánh tiêu biểu, chiến công nối tiếp chiến công khiến quân địch khiếp vía: Tại làng Dầm (16/8/1969), ông dùng tiểu liên bắn rơi 2 máy bay lên thẳng chở đầy lính Mỹ; ở đồn Nước Viu (20/4/1974), ông một mình dùng B40 bắn sập lô cốt đầu cầu, mở đường cho đơn vị tiến công, tiêu diệt 30 tên, giải phóng hơn 50 đồng bào bị giam giữ; còn tại cứ điểm Phước Sơn (27/4/1974), ông liều mình vượt rào thép gai, diệt gọn ổ địch đề kháng với 37 tên, giúp đồng đội xông lên làm chủ trận địa.
Không chỉ đánh giặc giỏi, Hồ Thanh Lâm còn sống nghĩa tình, nhận phần việc nặng, nhường thuốc cho thương binh nặng hơn mình. Với dân, ông thân mật, gần gũi như người con trong bản; mỗi khi tạm ngớt tiếng súng lại cùng bà con dựng nhà, khơi suối, trồng lúa. Ông thường nhắc anh em lời Bác dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, và coi đó là phương châm sống, là sức mạnh để vượt qua mọi gian khổ. Với Đảng, ông tuyệt đối trung thành; với đồng chí, ông chân thành, thủy chung.
Những phẩm chất ấy đã làm nên người anh hùng thật sự. Với thành tích đặc biệt xuất sắc, Hồ Thanh Lâm được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, ba Huân chương Chiến công hạng Ba, bốn lần danh hiệu Dũng sĩ. Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký quyết định phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục gắn bó với quân đội, đảm nhiệm chức vụ Phó Chỉ huy động viên – tuyển quân Huyện đội Trà My. Về hưu, ông sống yên bình ở thôn Đàn Bộ, xã Trà My, vẫn giản dị, khiêm nhường. Năm nay, với 77 tuổi đời và có đến 57 năm tuổi Đảng, ông như mạch nguồn suối rừng âm thầm nuôi dưỡng tình làng nghĩa bản, để ánh sáng của người đảng viên mẫu mực, kiên trung lan tỏa.

Trong những cuộc gặp mặt truyền thống, ông ít nói, chỉ mỉm cười hiền hậu. Khi được hỏi điều mong muốn nhất, ông chậm rãi: “Miền núi mình giờ yên bình rồi, chỉ mong con cháu biết giữ rừng, giữ bản, thương nhau và học hành để thoát nghèo”. Lời nói giản dị mà thấm đẫm tình người ấy cũng là tâm nguyện lớn nhất của người đảng viên suốt đời học theo gương Bác.
Như người đồng chí thân thiết, ông Nguyễn Văn Nghĩa – nguyên Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Bắc Trà My thường nói: “Ở Hồ Thanh Lâm hội tụ tất cả phẩm chất của người lính Trà My: Kiên cường, trung nghĩa, không bao giờ khuất phục. Ông là ngọn lửa không bao giờ tắt giữa đại ngàn”.
Ngọn lửa ấy của người anh hùng chân đất, của người đảng viên suốt đời noi gương Bác Hồ vẫn sáng trong lòng đồng bào Xà Nu hôm nay, soi rọi con đường bao thế hệ đang tiếp bước: Giữ rừng, giữ bản, giữ niềm tin vào Đảng và Tổ quốc.



