Người có công giúp đỡ cách mạng

NGƯỜI CON CỦA NÚI RỪNG SƠN LA, TRỌN ĐỜI VÌ ĐẢNG, VÌ DÂN

Sơn La13/08/2026Xã Kon Braih (Đoàn Xã Kon Braih)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhà cách mạng Hoàng Nó, tên khai sinh là Cầm Văn Lượng, sinh ngày 4-8-1925 tại bản Kéo, xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Sinh ra trong một gia đình quý tộc người Thái nhưng là con của vợ lẽ, tuổi thơ của ông trải qua không ít khó khăn. Sau khi học xong bậc sơ học, do gia đình không có điều kiện, ông phải nghỉ học, cùng mẹ lao động kiếm sống.

Chứng kiến cảnh người dân nghèo bị áp bức, bóc lột, phải chịu sưu cao, thuế nặng dưới chế độ thực dân phong kiến, Cầm Văn Lượng sớm hình thành lòng yêu nước và ý thức đấu tranh. Năm 1942, ông được các đồng chí Bế Nhật Huấn và Cầm Văn Minh giác ngộ cách mạng, giới thiệu đến với Việt Minh. Ngày 3-8-1943, ông được kết nạp vào Hội Thanh niên Cứu quốc, phụ trách tuyên truyền, vận động thanh niên tại Mường Bon.

Từ một cán bộ tuyên truyền trẻ, Cầm Văn Lượng tích cực vận động nhân dân tham gia Việt Minh, xây dựng cơ sở cách mạng, góp phần chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, ông tiếp tục dấn thân vào cuộc kháng chiến. Tại Mai Sơn, ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức huấn luyện cán bộ, vận động nhân dân đóng góp lương thực, vũ khí, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Năm 1946, ông được cử hoạt động bí mật tại Mộc Châu. Đến năm 1948, ông tham gia Đội Quyết Tiến, luồn sâu vào vùng địch hậu Mai Sơn và Yên Châu để xây dựng, phát triển cơ sở cách mạng.

Những ngày hoạt động trong vùng địch hậu là những ngày vô cùng gian khổ. Cán bộ, chiến sĩ thường xuyên phải sống trong điều kiện thiếu thốn, có những lúc phải ăn măng rừng để cầm cự. Từ hoàn cảnh ấy, Cầm Văn Lượng lấy bí danh “Hoàng Nó”. Trong tiếng Thái, “nó” có nghĩa là măng – một loài cây bình dị nhưng có sức sống bền bỉ giữa núi rừng. Cái tên ấy từ đó gắn bó với ông suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, như một biểu tượng cho nghị lực, sự dẻo dai và ý chí vượt qua gian khổ.

Tháng 8-1948, Hoàng Nó được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được giao giữ chức Bí thư Chi bộ Bon - Chăn, phụ trách địa bàn Cò Nòi, Hát Lót, Mường Bon và Chiềng Chăn.

Trong những năm địch tăng cường càn quét, nhiều cơ sở và khu du kích bị phá vỡ, nhưng Hoàng Nó vẫn kiên trì bám địa bàn. Cùng cán bộ địa phương, ông từng bước gây dựng lại cơ sở, nối lại liên lạc với Huyện ủy Mai Thuận, vận động nhân dân tiếp tục đấu tranh, khôi phục phong trào cách mạng tại vùng tạm chiếm.

Năm 1951, sau khi hoàn thành lớp đào tạo cán bộ tại Trường Hoàng Văn Thụ, Hoàng Nó trở lại vùng địch hậu. Đối mặt với mạng lưới mật thám dày đặc và sự truy lùng gắt gao của đối phương, ông cùng đồng đội xây dựng lại các cơ sở tại Cò Nòi, Hát Lót và Nà Sản, tạo địa bàn đứng chân cho lực lượng cách mạng và bộ đội chủ lực tiến tới giải phóng Sơn La.

Sau Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, Hoàng Nó chuyển sang phụ trách công tác tuyên giáo của tỉnh Sơn La. Trên cương vị mới, ông tích cực đào tạo cán bộ, tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phong trào kháng chiến, góp phần vào chiến dịch tiễu phỉ năm 1953 và thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Hòa bình lập lại ở miền Bắc, Hoàng Nó tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách. Ông lần lượt giữ các cương vị Trưởng Ty Tuyên truyền Văn nghệ tỉnh Sơn La (1954-1955), Ủy viên Ban Tuyên huấn Khu tự trị Thái - Mèo (1955), Ủy viên Ban Chấp hành Khu ủy Thái - Mèo (1957) và Giám đốc Sở Văn hóa Khu tự trị Thái - Mèo (1959).

Tháng 12-1962, ông được chỉ định giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Sơn La. Tháng 10-1963, tại Đại hội Đảng bộ tỉnh, ông tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn La. Từ đó, ông liên tục giữ cương vị người đứng đầu Đảng bộ tỉnh cho đến năm 1986, đồng thời là Ủy viên Trung ương Đảng khóa V.

Trong những năm tháng lãnh đạo tỉnh, Hoàng Nó cùng tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ Sơn La tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng cơ sở hạ tầng, chăm lo đời sống nhân dân, thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp. Trong bối cảnh cả nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam, Sơn La cũng tích cực đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Điều đáng quý ở Hoàng Nó là dù trải qua nhiều cương vị, từ cán bộ hoạt động bí mật trong vùng địch hậu đến người đứng đầu Đảng bộ tỉnh, ông vẫn giữ lối sống giản dị, gần gũi với nhân dân. Những năm tháng gian khổ của tuổi trẻ giúp ông hiểu sâu sắc giá trị của cuộc sống bình yên, đồng thời luôn ý thức rằng mọi chủ trương, chính sách phải hướng đến lợi ích của nhân dân.

Sau năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới. Dù tuổi cao, Hoàng Nó vẫn dành sự quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, chăm lo và dìu dắt đội ngũ cán bộ kế cận, đóng góp kinh nghiệm cho quá trình phát triển của Sơn La trong giai đoạn mới.

Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí Hoàng Nó được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, cùng nhiều huân, huy chương và kỷ niệm chương của Việt Nam, Lào và Liên Xô.

Năm 2003, đồng chí Hoàng Nó qua đời, hưởng thọ 78 tuổi. Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, cuộc đời ông gắn liền với những chặng đường quan trọng của Sơn La và đất nước: từ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến công cuộc xây dựng và đổi mới.

Từ cái tên “Hoàng Nó”, được đặt giữa những ngày gian khổ nơi vùng địch hậu, đến cương vị Bí thư Tỉnh ủy Sơn La, cuộc đời nhà cách mạng Hoàng Nó là một hành trình bền bỉ của niềm tin và sự cống hiến. Như sức sống của cây măng vươn lên giữa núi rừng, ông đã vượt qua nghịch cảnh, kiên trì bám dân, bám đất, góp sức xây dựng cơ sở cách mạng và dành trọn cuộc đời phụng sự Đảng, Tổ quốc và Nhân dân.

Tên tuổi và những đóng góp của Hoàng Nó đã trở thành một phần đáng trân trọng trong lịch sử cách mạng Sơn La, là tấm gương về lòng yêu nước, sự kiên trung và tinh thần tận tụy của người cán bộ cách mạng, đặc biệt trong công cuộc xây dựng, củng cố khối đoàn kết các dân tộc nơi vùng cao Tây Bắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn