NGƯỜI CON GÁI MỞ ĐƯỜNG TRONG MƯA LỬA
Mỗi một dân tộc đều có một thời kỳ mà lịch sử không chỉ được viết bằng mực, mà được viết bằng máu, bằng nước mắt và cả bằng những nụ cười thanh xuân rạng rỡ bất chấp tử thần. Đối với Việt Nam, những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ chính là một khoảng trời hoài niệm như thế – nơi ghi dấu “Những câu chuyện thời hoa lửa”. Giữa muôn vàn thanh âm hào hùng, vang dội của dàn đại hợp xướng ra trận, giữa tiếng gầm rú điên cuồng của máy bay phản lực và tiếng nổ xé toạc màn đêm của bom đạ
Năm ấy, họ bước vào chiến trường khi tuổi đời mới vừa tròn mười tám, đôi mươi. Đó là cái tuổi đẹp nhất của một đời người, cái tuổi mà đáng lẽ ra các chị đang được cắp sách đến trường, được sống trong sự bao bọc của mẹ cha, được nuôi dưỡng những mối tình đầu ngây thơ nơi góc phố, lũy tre làng. Thế nhưng, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, những người con gái chân lội bùn, tay cấy lúa, vốn chỉ quen với công việc đồng áng dịu dàng, đã tình nguyện giã biệt quê hương thanh bình, giấu giọt nước mắt lưu luyến vào những chiếc ba lô con cóc để dấn thân vào những “tọa độ chết”.
Bối cảnh chiến trường bấy giờ không có hoa hồng, chỉ có mưa bom, bão đạn và thứ chất độc hóa học tàn nhẫn của kẻ thù trút xuống đại ngàn. Trường Sơn năm ấy là nơi đất đá bị cày đi xới lại đến nồng nặc mùi thuốc súng, nơi những cánh rừng già ngàn năm tuổi bị xé toạc, trơ trụi những gốc cây cháy đen. Trong cái không gian ngột ngạt, lồng lộng gió ngàn và rực lửa chiến tranh ấy, nhiệm vụ của các chị dường như là bất khả thi đối với những cơ thể nhỏ bé: giữ vững mạch máu giao thông, rà phá bom mìn, san lấp hố bom để những đoàn xe không kính kịp thời chi viện cho miền Nam ruột thịt. “Đúng như nhà văn Lê Minh Khuê từng viết trong truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi:
Những ngôi sao xa xôi: “Đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay đang rầm rộ tít trên cao. Thần kinh căng như dây đàn, tim đập bất chấp nhịp điệu, chân chạy trên nền đất rực nóng”.
Chiến trường khốc liệt và cận kề cái chết là vậy, nhưng bom đạn bạo tàn của kẻ thù có thể tàn phá da thịt chứ không thể dập tắt được nét nữ tính đáng yêu, tâm hồn lãng mạn của những cô gái tuổi mười tám. Sức sống của tuổi trẻ có một thứ quyền năng kỳ diệu, nó giúp các chị tìm thấy niềm vui ngay trong hố bom sâu hoắm. Giữa những khoảng lặng hiếm hoi sau mỗi trận oanh tạc, người ta vẫn thấy các chị túm tụm lại, chia nhau chiếc gương sứt góc bảo bối để chải lại mái tóc dài, chia nhau chút nước bồ kết hiếm hoi hái vội bìa rừng để gội đầu. Mái tóc ấy có thể đã bị khói bom hun khét lẹt, bàn tay ấy đã rớm máu vì cuốc đất đá, chiếc lược nhựa trong túi áo ngực đã sứt đi vài răng vì bom chấn động, nhưng nụ cười của các chị thì vẫn vẹn nguyên sự trong sáng, rạng rỡ. Họ vẫn hát, tiếng hát át tiếng bom, tiếng cười tiếng nói ríu rít xua tan đi cái lạnh lẽo của rừng đêm và cái ngột ngạt của tử thần đang cận kề.
Để rồi, khi tiếng còi báo động vang lên, những người con gái dịu dàng, mềm mại ấy ngay lập tức biến thành những chiến sĩ quả cảm với một ý chí bằng thép. Lịch sử đã trang trọng khắc ghi danh tính của họ bằng những câu chuyện có thật, bằng những con người bằng xương bằng thịt đầy lay động.
Chúng ta làm sao quên được hình ảnh nữ anh hùng La Thị Tám, người con gái Hà Tĩnh nhỏ nhắn với chiếc áo sờn vai chịu nhiều sương gió. Suốt 200 ngày đêm ròng rã, chị đứng trên đỉnh đồi bom nổ chậm – nơi được mệnh danh là “đồi tử thần”, dùng ống nhòm để đếm từng quả bom trút xuống, định vị và đánh dấu vị trí cho đồng đội đến phá. Hình ảnh người con gái đứng hiên ngang giữa đất trời, bất chấp những quả bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào, đã trở thành nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Huy Thục viết nên ca khúc bất hủ “Người con gái sông La”.
Chúng ta cũng không thể không nghiêng mình trước câu chuyện của chị Nguyễn Thị Xuân, người con gái đã dũng cảm dùng chính thân mình để làm “cọc tiêu sống”. Trong những đêm đen tối mịt mùng, khi đèn xe vận tải không được phép bật lên vì sợ máy bay địch phát hiện, chị đã mặc chiếc áo trắng, đứng bên bờ vực thẳm, đứng giữa dòng nước lũ cuồn cuộn để làm tín hiệu dẫn lối cho những đoàn xe vượt qua tọa độ lửa an toàn. Sự sống của con đường, sự an toàn của những chuyến hàng vào Nam được đổi bằng chính mạng sống treo trên sợi tóc của người con gái ấy.
Nhưng có lẽ, đỉnh điểm của nỗi đau và sự khâm phục, nốt lặng lấy đi nhiều nước mắt nhất của khúc tráng ca thời hoa lửa, chính là sự hy sinh của Mười cô gái tại Ngã ba Đồng Lộc vào ngày 24 tháng 7 năm 1968. Tiểu đội nữ thanh niên xung phong do chị Võ Thị Tần làm tiểu đội trưởng, gồm 10 cô gái tuổi đời còn rất trẻ, từ 17 đến 24. Chỉ vài ngày trước khi ngã xuống, trong bức thư gửi về cho mẹ, chị Võ Thị Tần còn viết những dòng chữ đầy lạc quan, kiêu hãnh:
“Mẹ ơi, ở đây vui lắm mẹ ạ. Trận địa bom đạn cày nát nhưng tụi con vẫn cười, vẫn hát... Kẻ thù chỉ có thể tàn phá được đất đá, chứ không thể khuất phục được lòng người mẹ ạ!”.
(Trích thư của chị Võ Thị Tần gửi mẹ trước khi hy sinh)
Thế nhưng, buổi chiều định mệnh ngày 24/7 ấy, trận bom thứ 15 trong ngày trút xuống Đồng Lộc. Một quả bom tàn nhẫn đã nổ ngay sát miệng hầm nơi các chị đang ẩn nấp sau loạt trận cào lấp hố bom để mở đường. Đất đá sụp xuống, khoảng không im lặng đến đáng sợ bao trùm. Các chị đã ngã xuống, cả 10 người đã nằm lại lòng đất mẹ khi tuổi đời còn xanh tóc. Đau đớn thay, khi đồng đội đào đất tìm các chị, họ thấy các chị nằm bên nhau như đang ngủ, mái tóc vẫn còn nồng mùi khói bom, bàn tay vẫn còn nắm chặt chiếc cuốc, chiếc xẻng. Nhiều người trong số họ còn chưa từng có người yêu, chưa một lần được nắm tay một người con trai, chưa kịp nhận bức thư tay hồi âm của gia đình. Họ ra đi khi tuổi xuân đang độ nở rộ nhất, để lại niềm tiếc thương xé lòng cho những người ở lại.
Nước mắt của những người đồng đội năm ấy đã rơi xuống lòng đất Đồng Lộc khô khốc. Bài thơ “Cúc ơi!” của nhà thơ Yến Thanh – người đồng đội đã nghẹn ngào gọi tên người em út Hồ Thị Cúc khi tìm kiếm thân xác chị suốt ba ngày đêm trong đất đá – vẫn còn làm thổn thức hàng triệu trái tim cho đến tận hôm nay:
“Tiểu đội đã xếp một hàng ngang
Cúc ơi em ở đâu không về tập hợp?
Chín bạn quây quần khóc thương em
Mà không thấy tiếng em trả lời...
Đất sâu thì dày mà lòng em thì rộng
Các bạn đã tìm em ba ngày nay không thấy
Đất đen sẫm áo em rồi Cúc ơi!”.
(Trích bài thơ Cúc ơi! – Yến Thanh)
Nếu như Ngã ba Đồng Lộc là nỗi đau xé lòng của năm 1968, thì Hang Tám Cô trên con đường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình) lại là một chứng tích đau thương đến nghẹn ngào của những người con gái, con trai mở đường tuổi mười tám, đôi mươi. Trong một trận bom rải thảm tàn khốc của máy bay Mỹ, một tảng đá khổng lồ nặng hàng nghìn tấn đã đổ sụp xuống, lấp kín cửa hang nơi 8 người con trẻ tuổi đang ẩn nấp.
Đồng đội bên ngoài bất lực trong nước mắt, dùng xẻng, dùng cuốc, dùng cả móng tay rớm máu để đào bới nhưng tảng đá quá lớn không hề dịch chuyển. Suốt 9 ngày đêm sau đó, người ta chỉ biết dùng một chiếc vòi tre nhỏ luồn qua kẽ đá để truyền nước cháo loãng vào bên trong, và nghe tiếng kêu cứu, tiếng gọi gào khản đặc của các chị, các anh cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi lịm tắt giữa lòng núi lạnh lẽo. Họ đã ra đi trong sự kiên cường và lòng yêu nước bất diệt, gửi lại thân xác thanh xuân trong lòng đá sâu thẳm.
Và làm sao không nhắc đến Truông Bồn (Nghệ An) – nơi được mệnh danh là “tọa độ chết”. Chỉ một ngày trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, một trận mưa bom oanh tạc đã cướp đi sinh mạng của 13 chiến sĩ thanh niên xung phong, trong đó hầu hết là những cô gái trẻ. Đau đớn thay, có những người chị trong số họ đã cầm trên tay chiếc vé tàu để ngày mai xuất ngũ trở về quê mẹ, có những người chị đã định ngày cưới sau khi chiến tranh kết thúc. Nhưng tất cả những ước mơ giản dị ấy đã mãi mãi nằm lại dưới làn khói bom đen kịt của Truông Bồn. Sự hy sinh cận kề ngày hòa bình ấy là một nốt lặng đau đớn, lấy đi nước mắt của biết bao thế hệ mai sau.
Các chị đã khép lại tuổi xuân của mình giữa mưa bom lửa đạn để mở ra mùa xuân hòa bình cho dân tộc hôm nay.
Sự hy sinh của các chị không gợi lên sự bi lụy, ngã quỵ, mà trái lại, nó kết tinh thành một thứ ánh sáng chói lọi, thúc giục hàng triệu thanh niên khác tiếp bước lên đường, dùng máu xương để đổi lấy tự do cho Tổ quốc.
Chiến tranh đến nay đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, những hố bom nham nhở năm xưa giờ đã được phủ xanh bởi màu của cây lá, của ruộng đồng và sự sống thanh bình. Thế nhưng, câu chuyện về “người con gái mở đường trong mưa lửa” chưa bao giờ cũ, chưa bao giờ phai mờ trong tâm thức dân tộc. Nó đã vượt qua giới hạn của một giai đoạn lịch sử để trở thành một ngọn đuốc sáng soi đường cho thế hệ trẻ hôm nay.
Lật giở những trang sử đỏ, nhìn lại quá khứ, chúng ta – những thanh niên của thời đại mới – không thể không tự vấn bản thân. Giữa thời bình, chúng ta không còn phải đối mặt với mưa bom bão đạn, không phải đánh cược mạng sống với tử thần trên những cung đường rực lửa, được sống trong hòa bình, được tiếp cận với công nghệ, tri thức hiện đại. Vậy chúng ta đã làm được gì cho mảnh đất mà các chị đã dùng cả thanh xuân để bảo vệ?
Học tập tinh thần “thời hoa lửa”, thanh niên hôm nay vẫn đang tiếp bước các chị để mở những “con đường” mới phù hợp với dòng chảy của thời đại. Đó là hình ảnh những người trẻ tình nguyện gác lại sự phồn hoa của phố thị, khoác lên mình màu áo xanh tình nguyện để đi về vùng sâu vùng xa mang con chữ đến cho trẻ em nghèo; là những nữ bác sĩ, y tá trẻ sẵn sàng dấn thân vào những tâm dịch, những vùng thiên tai nguy hiểm; là những chiến sĩ trẻ kiên cường chịu đựng nắng gió để canh giữ biên cương hải đảo bảo vệ bình yên cho Tổ quốc. Và vĩ mô hơn, đó là cả một thế hệ thanh niên đang ngày đêm dấn thân, sáng tạo trên mặt trận tri thức, công nghệ, kinh tế để mở con đường đưa Việt Nam hội nhập, sánh vai với các cường quốc năm châu. Chúng ta đang mở đường bằng chất xám, bằng khát vọng, bằng lòng tự tôn dân tộc được kế thừa từ chính dòng máu anh hùng của các chị năm xưa.
“Người con gái mở đường” không chỉ là một nhân vật thuộc về quá khứ, thuộc về bảo tàng lịch sử, mà đã trở thành biểu tượng vĩnh cửu của lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và lý tưởng sống cao đẹp. Câu chuyện về thời hoa lửa của các chị nhắc nhở thế hệ hôm nay hiểu được cái giá của hòa bình, độc lập được đổi bằng bao nhiêu xương máu. Giọt nước mắt chúng ta rơi hôm nay khi nghe câu chuyện của các chị không phải là sự yếu đuối, mà là sự biết ơn, sự thức tỉnh của một tâm hồn biết sống trách nhiệm hơn, cống hiến nhiều hơn và quyết tâm viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc bằng trí tuệ và khát vọng của thời đại mới.



