Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người đại đội trưởng Hưng Phú trên đường Bình Quan – Cộn

Nghệ An17/08/2026Xã Hùng Châu (Đoàn xã Hùng Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Thị Thu Hiền, sinh năm 1947, quê xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; tham gia thanh niên xung phong từ năm mười tám tuổi, sau là Đại đội trưởng Đại đội 202 – N241, P31 Thanh niên xung phong Nghệ An, phụ trách khoảng 150 đội viên. Bối cảnh chính là tuyến đường từ cổng Bình Quan lên Cộn, Đồng Hới, Quảng Bình, năm 1971.

Ngày cô gái Hồ Thị Thu Hiền xin gia nhập thanh niên xung phong, cô vừa tròn mười tám tuổi. Quê cô ở xã Hưng Phú, huyện Hưng Nguyên, nơi những bãi ngô và ruộng lúa trải dọc vùng hạ lưu sông Lam. Người nhà thương con gái còn trẻ, nhưng hiểu rằng tuổi trẻ trong những năm chiến tranh ai cũng muốn góp một phần cho đất nước.

Ban đầu, cô Hiền làm những công việc bắc cầu, sửa đường trên địa bàn Nghệ An. Công việc không có tiếng reo hò chiến thắng, chỉ có đất đá, nắng gió và những đôi vai chai sần. Nhưng những tuyến đường ấy là mạch nối giữa hậu phương và tiền tuyến. Một đoạn đường được giữ thông có thể giúp đoàn xe đi đúng giờ, giúp lương thực và thuốc men đến được nơi đang cần.

Sau một thời gian trở về địa phương, Hồ Thị Thu Hiền lại tình nguyện lên đường lần thứ hai. Cô được biên chế vào Đại đội 202 – N241, P31 Thanh niên xung phong Nghệ An và được giao làm đại đội trưởng. Dưới sự phụ trách của người nữ cán bộ trẻ là khoảng một trăm năm mươi đội viên, phần đông cũng ở độ tuổi đôi mươi.

Làm đại đội trưởng không chỉ là nhận mệnh lệnh rồi phân công công việc. Người chỉ huy còn phải biết từng đội viên đang mệt hay khỏe, ai nhớ nhà, ai có hoàn cảnh khó khăn. Giữa chiến trường, một lời động viên đúng lúc có thể giúp người trẻ vững lòng. Hồ Thị Thu Hiền thường có mặt ở nơi công việc nặng nhất, cùng làm với đồng đội để mọi người hiểu rằng đại đội trưởng không đứng ngoài gian khổ.

Giữa năm 1969, Đại đội 202 hành quân vào chiến trường Bình – Trị – Thiên. Đơn vị đảm nhận việc vận chuyển lương thực, thuốc men và các nhu yếu phẩm; đồng thời hỗ trợ đưa người bị thương về phía sau. Những cô gái xứ Nghệ vốn quen gánh lúa, gánh khoai, nay mang trên vai hàng hóa phục vụ chiến trường. Mưa rừng làm đường trơn, nắng khiến đất đá bỏng rát, nhưng đoàn người vẫn bám nhau đi.

Tháng 3/1971, đơn vị được điều ra khu vực Đồng Hới, Quảng Bình, tham gia sửa và mở tuyến đường từ cổng Bình Quan lên Cộn. Đây là một nhánh đường quan trọng nên thường xuyên bị đánh phá. Có hôm, đoạn đường vừa được lấp xong, ngày sau lại phải làm lại. Thanh niên xung phong quen với cảnh quần áo chưa kịp khô đã lại xuống đường.

Một trong những nguy hiểm lớn nhất là vật nổ còn sót lại trên tuyến. Chỉ khi khu vực được kiểm tra, xử lý an toàn, các đội san lấp và đoàn xe mới có thể đi qua. Có những nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm mà trước lúc lên đường, đồng đội chỉ biết đứng bên nhau, dặn người đi phải thật bình tĩnh và chờ ngày trở lại.

Ba lần, Hồ Thị Thu Hiền tình nguyện nhận phần việc khó khăn ấy. Nhưng khi kể lại câu chuyện, điều cần nhớ không phải cách xử lý vật nổ, mà là trách nhiệm của người chỉ huy. Bà không muốn giao cho đội viên một việc mà bản thân mình không dám đối diện. Mỗi quyết định đều hướng tới mục tiêu giữ an toàn cho đồng đội và sớm thông đường.

Những người trong đại đội lặng lẽ chờ tin. Khi thấy người đại đội trưởng trở về, họ mới thở phào. Không có lời nói khoa trương. Chỉ là những bàn tay nắm chặt, một bát nước được chuyền sang và rồi tất cả lại tiếp tục công việc. Đường chưa thông thì cuốc xẻng chưa thể nghỉ.

Các cháu ạ, dũng cảm không đồng nghĩa với coi nhẹ sự sống. Những thanh niên xung phong hiểu rất rõ sự sống quý giá, nên họ càng cố gắng giữ đường để người khác được an toàn. Hồ Thị Thu Hiền nhận nhiệm vụ khó không phải để tìm danh tiếng. Bà làm vì phía sau là một trăm năm mươi đồng đội đang chờ, phía trước là những đoàn xe cần đi qua.

Khi tuyến đường được nối lại, từng đoàn xe tiếp tục lăn bánh. Tiếng động cơ xa dần trong đêm là phần thưởng lớn nhất đối với những người làm đường. Họ biết công sức của mình đã không uổng phí. Mỗi bao gạo, thùng thuốc đi qua đều mang theo tấm lòng của hậu phương, trong đó có tình cảm của nhân dân Nghệ An dành cho tiền tuyến.

Sau những năm ở chiến trường, Hồ Thị Thu Hiền trở về Nghệ An và tiếp tục góp sức trên các công trình giao thông. Bàn tay từng cầm cuốc, san đất giữa Quảng Bình lại làm việc trên những con đường quê hương. Năm 2007, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Danh hiệu cao quý ấy đến khi thời hoa lửa đã lùi xa, nhưng bà vẫn giữ cách nói chân chất của người Hưng Nguyên. Trong ký ức của bà, công lao thuộc về cả Đại đội 202, về những cô gái, chàng trai đã chia nhau từng phần cơm, thay nhau gùi hàng và cùng giữ một con đường không bị đứt quãng.

Ngày nay, từ Hưng Phú đi qua những con đường rộng mở, ít ai còn hình dung cảnh người thanh niên phải thức trắng để giữ từng đoạn đường. Nhưng câu chuyện của bà Hiền nhắc chúng ta rằng mọi con đường bình yên đều có dấu chân người đi trước.

Nếu các cháu hỏi “thời hoa lửa” có màu gì, có lẽ trong câu chuyện này, đó là màu đất đỏ bám trên vai áo, màu đèn xe hiện lên cuối đường và màu xanh của tuổi trẻ. Tuổi trẻ Hồ Thị Thu Hiền đã đi từ Hưng Phú đến Bình Quan – Cộn, để lại phía sau một bài học mộc mạc: người cán bộ chân chính là người biết bước lên phía trước khi đồng đội cần mình nhất.

Nguồn tư liệu đối chiếu: Báo Nghệ An – “Những bản hùng ca đẹp nhất về lòng yêu nước nồng nàn”; Báo Quân đội nhân dân – “Đại đội trưởng ba lần được truy điệu sống”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người đại đội trưởng Hưng Phú trên đường Bình Quan – Cộn | Câu chuyện thời hoa lửa