Cựu chiến binh

Người đi qua mùa lửa, giữ lại mùa bình yên

Nghệ An12/10/2026 Đoàn xã Chiềng Mung (Đoàn xã Chiềng Mung)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

Nguyễn Quốc Thước – Người đi qua mùa lửa, giữ lại mùa bình yên

Có một người lính đi qua chiến tranh, để lại phía sau một khoảng trời bình yên

Có những câu chuyện lịch sử không bắt đầu bằng tiếng súng.

Nó bắt đầu bằng một cái tên được nhắc lại trong căn nhà, bằng một tấm ảnh đã cũ, bằng giọng kể chậm rãi của một người từng biết hoặc từng có dịp gặp một con người đã đi qua gần như trọn một thế kỷ của đất nước.

Tôi biết đến Trung tướng Nguyễn Quốc Thước cũng theo cách như thế.

Không phải từ một bài học thuộc lòng trong sách giáo khoa. Không phải từ những dòng tiểu sử mà tôi phải ghi nhớ để làm một bài kiểm tra. Mà là từ những câu chuyện về một thế hệ mà đôi khi, càng nghe kể, tôi càng nhận ra rằng mình đang đứng ở một nơi quá bình yên để có thể hình dung hết những năm tháng họ từng trải qua.

Có những người sinh ra khi đất nước đã hòa bình.

Còn ông Nguyễn Quốc Thước sinh ngày 3 tháng 2 năm 1926, tại xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Ông trưởng thành từ một gia đình nông dân trên vùng đất xứ Nghệ giàu truyền thống cách mạng. Hai mươi tuổi, khi phần lớn chúng tôi ngày nay vẫn đang loay hoay với những bài kiểm tra, những kỳ thi và những lựa chọn đầu tiên của tuổi trẻ, ông đã bước vào một thời đại mà đất nước đang đứng trước những biến động lớn lao. Tháng 4 năm 1945, ông bí mật tham gia phong trào Việt Minh tại địa phương. 

Tôi cứ nghĩ mãi về con số hai mươi tuổi ấy.

Hai mươi tuổi của chúng tôi hôm nay có thể là những buổi chiều tan học, những cuộc trò chuyện kéo dài trên mạng xã hội, những lần đứng trước gương chọn một bộ quần áo cho ngày hội của lớp, hay những nỗi lo rất riêng của tuổi mới lớn.

Còn hai mươi tuổi của một người trẻ tên Nguyễn Quốc Thước là những ngày đất nước đang chuyển mình, là lựa chọn bước vào con đường cách mạng, là chấp nhận đặt tuổi thanh xuân của mình vào một tương lai mà khi ấy chưa ai biết chắc sẽ ra sao.

Có lẽ, khoảng cách lớn nhất giữa hai thế hệ không nằm ở tuổi tác.

Nó nằm ở hoàn cảnh,

Năm 1949, khi đang là Bí thư Thanh niên huyện Nghi Lộc, Nguyễn Quốc Thước xung phong nhập ngũ. Ông được học tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, phân hiệu tại Liên khu 4, nơi đào tạo cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội. Khả năng tiếp thu nhanh và tinh thần học tập nghiêm túc khiến ông được Đại tá Hoàng Điền, hiệu trưởng nhà trường, lựa chọn làm trợ giảng. 

Có một chi tiết khiến tôi nhớ rất lâu, đó là chuyện về người thầy.

Sau này, Nguyễn Quốc Thước trở thành một vị tướng, quân hàm thậm chí vượt qua người thầy năm xưa. Nhưng điều ấy không làm mất đi sự kính trọng ông dành cho thầy của mình.

Có lẽ, con người ta càng đi xa càng cần nhớ mình đã bắt đầu từ đâu.

Một người có thể trở thành vị tướng được nhiều người biết đến, có thể đứng trước những hội nghị lớn, có thể giữ những trọng trách quan trọng. Nhưng trước tất cả những điều ấy, họ từng là một người học trò.

Tôi nghĩ đó quả là một bài học rất đẹp.

Bởi trong thời đại mà chúng tôi đôi khi quá dễ dàng nhìn vào thành tích của một người để đánh giá họ, câu chuyện về Nguyễn Quốc Thước khiến tôi nghĩ nhiều hơn về chữ “biết ơn”.

Không phải cứ đi thật xa là được phép quên nơi mình từng đứng.

Không phải cứ đạt được một vị trí cao là có thể quên những người đã từng dìu dắt mình.

Và có lẽ, chính những điều tưởng như rất giản dị ấy đã tạo nên chiều sâu của một con người.


Nhưng chiến tranh không phải là một trang sách.

Chiến tranh là những con người thật, bằng da bằng thịt, đứng giữa những hoàn cảnh mà chúng ta hôm nay chỉ có thể hình dung qua những dòng hồi ký và những bức ảnh đã bạc màu.

Năm 1972, khi giữ cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 28, Nguyễn Quốc Thước trực tiếp chỉ huy đơn vị chiến đấu tại khu vực giữa Đắc Tô và thị xã Kon Tum. Trong một trận oanh tạc dữ dội, hầm chỉ huy bị sập. Ông bị thương nặng, sau này được giám định tổn thương 49%. Quân y đề nghị đưa ông về tuyến sau, nhưng ông yêu cầu được sơ cứu và tiếp tục ở lại chỉ huy đơn vị. 

Tôi đọc đến đoạn ấy rồi dừng lại rất lâu. Không phải vì tôi muốn tưởng tượng chiến tranh đã khốc liệt đến mức nào. Mà bởi tôi chợt nhận ra rằng phía sau hai chữ “người chỉ huy” là một con người cũng biết đau, cũng có cơ thể cần được chữa trị, cũng có những người thân chờ đợi.

Một người lính không phải là một nhân vật bước ra từ huyền thoại.

Họ cũng có một mái nhà.

Có một người mẹ.

Có người vợ, người con.

Có những người thương họ và mong họ trở về.

Vậy mà trong những giờ phút khắc nghiệt nhất, họ vẫn phải đứng ở nơi trách nhiệm gọi tên mình.

Tôi nghĩ, đó có lẽ là một trong những điều khó hiểu nhất đối với một người trẻ được sinh ra trong hòa bình.

Chúng tôi thường nói về hòa bình như một điều hiển nhiên.

Nhưng càng đọc về những người đã đi qua chiến tranh, tôi càng thấy hòa bình không hề tự nhiên mà có.

Nó được đổi bằng tuổi trẻ của rất nhiều người.

Được giữ lại bằng những cuộc chia ly.

Được viết nên từ những cái tên mà đôi khi thế hệ sau chỉ còn biết qua một vài dòng trong sách.


Nguyễn Quốc Thước tiếp tục trải qua nhiều cương vị trong quân đội. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông tham gia công tác tham mưu tác chiến tại Mặt trận B3 Tây Nguyên. Sau ngày đất nước thống nhất, ông lần lượt giữ cương vị Tư lệnh Quân đoàn 3 và Tư lệnh Quân khu 4. 

Nhưng câu chuyện về ông không dừng lại ở chiến trường.

Đất nước hòa bình, người lính ấy lại bước sang một mặt trận khác: nghị trường.

Ông là đại biểu Quốc hội ba khóa liên tiếp, trong khoảng thời gian từ năm 1987 đến năm 2002. Tại đây, hình ảnh một vị tướng từng trải qua chiến tranh xuất hiện trong một vai trò khác: người đại biểu nói lên những điều ông cho rằng cần thiết cho lợi ích chung. 

Có một câu chuyện được nhắc lại khiến tôi đặc biệt ấn tượng. Trong một phiên họp Quốc hội khóa VIII, khi bàn về tình trạng cấp dưới không chấp hành chỉ đạo của cấp trên, Nguyễn Quốc Thước đã phát biểu rất thẳng thắn, lấy chính kinh nghiệm quản lý quân đội của mình để đưa ra quan điểm về trách nhiệm của người đứng đầu. Sau cuộc họp, có người lo lắng rằng phát biểu ấy có thể khiến ông gặp rắc rối. Nhưng ông vẫn giữ thái độ bình thản, bởi theo cách ông nhìn nhận, tranh luận trong công việc cuối cùng phải hướng tới việc tìm ra điều đúng và có lợi cho cái chung. 

Tôi không nghĩ câu chuyện ấy đáng nhớ chỉ vì sự thẳng thắn.

Điều làm tôi suy nghĩ là trách nhiệm đối với lời mình nói.

Có những lúc chúng ta rất dễ im lặng.

Im lặng vì sợ sai.

Im lặng vì sợ người khác không thích.

Im lặng vì nghĩ rằng chuyện ấy không liên quan đến mình.

Nhưng thế hệ đã đi qua chiến tranh dường như mang trong mình một cách nhìn khác về trách nhiệm. Một khi đã nhận nhiệm vụ, họ phải chịu trách nhiệm với nó. Một khi đã nói, họ phải chịu trách nhiệm với điều mình nói.

Đó là một bài học mà tôi nghĩ thế hệ trẻ hôm nay vẫn cần. Không phải bài học về chiến tranh, mà là bài học về cách sống.



Còn có một câu chuyện khác về ông mà tôi đặc biệt yêu thích.

Khi Quốc hội bàn về một đề án cải tạo cảng biển, phương án được đưa ra có sử dụng một lượng lớn thuốc nổ. Nguyễn Quốc Thước đã phản đối vì lo ngại những tác động tiêu cực tới môi trường biển và sức khỏe con người. Ông nhắc lại kinh nghiệm từ chiến trường để chỉ ra rằng ngay cả một lượng nhỏ chất nổ cũng có thể gây tác động đến môi trường sinh thái. Sau ý kiến đó, phương án được xem xét lại theo hướng khác. 

Tôi thấy câu chuyện ấy thật đặc biệt, bởi một người từng sống giữa chiến tranh lại trở thành người lên tiếng về việc bảo vệ môi trường trong thời bình.

Có lẽ bởi ông hiểu hơn ai hết sức tàn phá của những thứ được tạo ra để hủy diệt.

Có những người chỉ biết giá trị của bình yên khi đã từng mất bình yên.

Có những người chỉ thực sự hiểu thiên nhiên quý giá thế nào khi từng chứng kiến những vùng đất bị chiến tranh làm tổn thương.

Và có những người sau khi đi qua chiến tranh lại chọn cách bảo vệ cuộc sống thay vì tiếp tục nói về chiến tranh.

Đó là điều khiến câu chuyện về Nguyễn Quốc Thước đối với tôi không chỉ là câu chuyện của một vị tướng.

Đó còn là câu chuyện về sự chuyển mình của một con người cùng với đất nước.

Từ người thanh niên tham gia cách mạng.

Đến người lính.

Từ người chỉ huy trên chiến trường.

Đến người đại biểu của nhân dân.

Và từ một người từng sống trong những năm tháng khốc liệt nhất, trở thành một tiếng nói cho những vấn đề của đời sống hòa bình.



Nếu chỉ nhìn vào những danh hiệu, người ta có thể kể rất nhanh về Nguyễn Quốc Thước.

Trung tướng.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nguyên Tư lệnh Quân khu 4.

Nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3.

Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Đại biểu Quốc hội ba khóa.

Năm 2020, ông được Chủ tịch nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. 

Nhưng tôi không muốn nhớ về ông chỉ bằng những danh hiệu ấy.

Tôi muốn nhớ đến ông trước hết như một người đã từng là một thanh niên hai mươi tuổi.

Một người bước ra từ một miền quê xứ Nghệ.

Một người từng có thầy giáo.

Một người từng đứng giữa chiến trường.

Một người từng bị thương.

Một người từng trở thành đại biểu trước nghị trường.

Và trên hết, một con người đã dành phần lớn cuộc đời mình cho những công việc mà ông lựa chọn và gánh vác trong những hoàn cảnh khác nhau của đất nước.

Bởi nếu chỉ nhìn một con người từ phía cuối con đường, chúng ta sẽ dễ quên rằng họ cũng từng bắt đầu từ một bước chân rất nhỏ.



Tôi lại nghĩ nhiều về những người thân của ông.

Tôi không biết trong những căn phòng của gia đình ông có còn những bức ảnh cũ nào được giữ lại không. Tôi cũng không muốn tự tưởng tượng ra những lời mà người thân ông chưa từng nói.

Nhưng tôi có thể hình dung một điều rất thật: với bất kỳ gia đình nào có một người dành phần lớn tuổi trẻ cho đất nước, ký ức về họ chắc chắn không chỉ nằm trong những danh hiệu.

Nó nằm trong những câu chuyện.

Có thể là câu chuyện về một người cha, người chồng, người ông.

Có thể là một bức ảnh.

Có thể là một lần trở về.

Có thể là một kỷ niệm mà người ngoài nghe qua chỉ thấy bình thường, nhưng với gia đình lại là một phần không thể thay thế của cuộc đời.

Lịch sử đôi khi không nằm trong những điều quá lớn lao.

Lịch sử cũng có thể nằm trên bàn ăn của một gia đình.

Nằm trong câu chuyện ông bà kể cho con cháu.

Nằm trong ánh mắt của một người đã từng chờ đợi người thân trở về.

Và nằm trong sự im lặng của những người không bao giờ trở về nữa.

Có lẽ vì thế mà tôi càng trân trọng việc những câu chuyện như thế được kể lại.

Bởi thời gian không đứng yên.

Một thế hệ sẽ già đi.

Một giọng nói sẽ yếu dần.

Một người từng chứng kiến lịch sử sẽ không thể kể mãi.

Nếu hôm nay chúng ta không lắng nghe, ngày mai có thể sẽ chẳng còn ai kể cho chúng ta nghe bằng chính giọng nói của họ nữa.



Tôi được sinh ra trong thời bình.

Đó là một điều rất đỗi bình thường.

Nhưng càng lớn, tôi càng thấy mình may mắn khi có thể nói câu ấy một cách bình thường.

Tôi được đến trường.

Được ngồi trong một lớp học có ánh sáng.

Được than thở vì bài tập khó.

Được lo lắng về một kỳ thi.

Được nghĩ xem mình muốn học ngành gì, sống ở đâu, trở thành người như thế nào.

Những điều ấy nghe nhỏ bé, nhưng với một người trẻ sống giữa thế kỷ XXI, đó chính là cuộc sống.

Và tôi hiểu rằng phía sau sự bình thường ấy là một lịch sử không bình thường.

Có những người đã dùng tuổi trẻ của họ để giữ lại cho chúng tôi quyền được sống một cuộc đời bình thường.

Nghĩ đến điều đó, tôi thấy hai chữ “hòa bình” bỗng trở nên nặng hơn. Không còn chỉ là một khái niệm trong sách giáo khoa. Không còn chỉ là ngày 30 tháng 4, ngày 2 tháng 9 hay những mốc thời gian mà chúng tôi học thuộc.

Hòa bình là buổi sáng tôi có thể thức dậy mà không nghe tiếng bom.

Là con đường đến trường.

Là tiếng cười của bạn bè.

Là những dự định còn dang dở.

Là quyền được mơ về tương lai.

Và có lẽ, đó cũng chính là cách thế hệ trẻ chúng tôi trả lời những người đã đi trước.

Không phải bằng việc cố gắng trở thành những người hùng giống họ.

Mà bằng việc biết mình đang được sống trong một điều quý giá đến nhường nào.



Khi đọc lại câu chuyện về Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, tôi không nghĩ mình đã hiểu hết một đời người.

Không ai có thể hiểu hết cuộc đời của một con người chỉ bằng một bài viết.

Nhưng tôi nghĩ mình đã hiểu thêm một chút về thế hệ đã đi trước.

Tôi hiểu rằng lòng yêu nước đôi khi không phải là những lời quá lớn lao.

Nó có thể là việc một người thanh niên lựa chọn đứng vào hàng ngũ cách mạng khi đất nước cần.

Là một người lính ở lại vị trí của mình khi đồng đội đang cần người chỉ huy.

Là một người cán bộ không quên người thầy đã dạy mình.

Là một người đại biểu dám nói điều mình tin là cần thiết.

Là một người từng đi qua chiến tranh nhưng vẫn nghĩ về sự sống và môi trường trong thời bình.

Và có lẽ, yêu nước còn là việc mỗi thế hệ cố gắng sống sao cho những hy sinh của thế hệ trước không trở nên vô nghĩa.


Có những buổi chiều, tôi nghĩ nếu được ngồi trước một người đã đi qua gần một thế kỷ của đất nước, tôi sẽ không hỏi quá nhiều về những chiến công.

Tôi có lẽ sẽ hỏi:

“Bác có bao giờ nhớ tuổi hai mươi của mình không?”

Tôi muốn biết người thanh niên Nguyễn Quốc Thước năm hai mươi tuổi đã nghĩ gì khi bước vào con đường cách mạng.

Có sợ không?

Có nhớ nhà không?

Có từng mong một ngày chiến tranh kết thúc để được trở về sống một cuộc đời bình thường không?

Tôi nghĩ những câu hỏi ấy quan trọng.

Bởi khi chúng ta gọi một người là “anh hùng”, đôi khi chúng ta vô tình quên mất rằng trước khi trở thành anh hùng, họ cũng chỉ là một con người.

Một con người biết yêu thương.

Biết nhớ.

Biết đau.

Biết hy vọng.

Và cũng có một tuổi trẻ không thể lấy lại.

Có lẽ điều khiến tôi xúc động nhất không phải là việc một con người đã đứng cao đến đâu.

Mà là việc họ đã đi qua những năm tháng khó khăn như thế nào để chúng ta hôm nay có thể đứng đây, trong một buổi chiều bình yên, đọc lại câu chuyện ấy bằng một tâm thế hoàn toàn khác.



Trung tướng Nguyễn Quốc Thước là một nhân vật của lịch sử.

Nhưng câu chuyện về ông không nên chỉ nằm lại trong lịch sử.

Bởi mỗi thế hệ đều cần những câu chuyện để hiểu mình đang đứng ở đâu.

Với tôi, câu chuyện ấy bắt đầu từ một người con xứ Nghệ sinh năm 1926, bước vào con đường cách mạng khi còn rất trẻ, trưởng thành trong quân đội, đi qua những năm tháng chiến tranh, tiếp tục cống hiến trong thời bình và dành nhiều năm làm đại biểu Quốc hội. Những dấu mốc ấy đã được ghi lại trong các tư liệu lịch sử. 

Nhưng điều còn ở lại trong tôi lại không phải những con số.

Đó là hình ảnh một thế hệ.

Một thế hệ đã đi qua những mùa hoa lửa để giữ lấy mùa bình yên cho những người chưa từng gặp họ.

Một thế hệ mà tuổi trẻ đã đi qua cùng lịch sử.

Và giờ đây, khi chúng tôi - những người trẻ của thời bình - đứng trước tương lai của chính mình, có lẽ điều cần làm không phải là cố gắng kể về quá khứ bằng những lời thật lớn.

Mà là học cách lắng nghe.

Lắng nghe khi một người già kể lại câu chuyện của họ.

Lắng nghe những điều tưởng như đã cũ.

Lắng nghe cả những khoảng im lặng giữa những câu chuyện.

Bởi đôi khi, điều đau đáu nhất của lịch sử không nằm trong những gì được nói ra.

Nó nằm trong những gì một thế hệ đã phải im lặng mang theo suốt cả cuộc đời.

Tôi biết mình không thể sống lại tuổi hai mươi của những người như Trung tướng Nguyễn Quốc Thước.

Tôi cũng không thể hiểu trọn những mất mát mà thế hệ ấy đã trải qua.

Nhưng tôi có thể biết ơn.

Tôi có thể nhớ.

Tôi có thể kể lại.

Và tôi có thể sống thật tử tế với cuộc sống bình yên mà mình đang có.

Để một ngày nào đó, khi thế hệ sau hỏi chúng tôi rằng:

“Các anh chị đã làm gì khi được sống trong thời bình?”

Chúng tôi có thể bình thản trả lời:

“Chúng tôi đã cố gắng sống sao cho xứng đáng với những người đã đi qua thời hoa lửa.”

Và có lẽ, đó là cách đẹp nhất để một câu chuyện lịch sử không kết thúc.

Nó tiếp tục sống trong ký ức.

Trong lòng biết ơn.

Trong những người trẻ đang lớn lên.

Và trong một đất nước mà mỗi buổi sáng bình yên hôm nay đều nhắc chúng ta rằng: đã có những thế hệ từng đi qua giông bão để giữ lại cho chúng ta một bầu trời bình yên như thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người đi qua mùa lửa, giữ lại mùa bình yên | Câu chuyện thời hoa lửa