Người em gái ở lại với bến phà của anh
Có những chuyến phà không chở hàng, chỉ chở một lời hứa sang bên kia sông.
Những năm chống Mỹ, bến phà, cầu phao Khuyến Lương trên sông Hồng là một mạch máu của Thủ đô. Xe chi viện miền Nam phải qua đây, và vì thế bom cũng tìm đến đây. Giữ được bến là giữ được đường ra mặt trận. Người giữ bến là những thanh niên xung phong Đội N49, phần lớn mới đôi mươi.
Trong số ấy có anh Ngô Văn Hợi.
Ngày 26/6/1966, hai anh em Hợi và Mão cùng được kết nạp Đoàn. Đó là những ngày phong trào "Ba sẵn sàng" làm cả Hà Nội sục sôi, và hai anh em cùng viết đơn tình nguyện. Anh lên đường trước, vào N49. Cô em gái còn ở nhà, chờ đến lượt mình.
Lượt ấy đến sớm hơn cô nghĩ, và theo một cách không ai mong.
Theo lời bà Mão và ông Phạm Văn Cẩn, một người đồng đội của anh, chiều 27/10/1967 bom Mỹ nổ ngay trận địa Khuyến Lương. Cột nước dựng lên giữa sông Hồng. Năm thanh niên xung phong N49 ngã xuống, trong đó có anh Hợi. Anh ở N49 được đúng một năm.
Tin về đến nhà. Ông Cẩn kể đơn vị nhận lệnh phải tìm bằng được đồng đội. Ba ngày sau, theo lời ông, các anh lần lượt nổi lên ngay chỗ bến phà các anh đã bảo vệ. Đồng đội tự tay an táng các anh trên mảnh đất ấy. Riêng liệt sĩ Tạ Văn Minh đã ở lại với dòng sông.
Cả nhà đau đớn. Nhưng người cha, giữa lúc mất con, lại nói với con gái những lời không dễ nói: anh chưa làm xong nhiệm vụ với Tổ quốc, thì em đi tiếp.
Bà Mão đi. Bà xin vào đúng đơn vị N49 của anh. Từ Khuyến Lương đến Phà Chèm, Vạn Kiếp, bà bám bến cùng đồng đội qua những năm bom đạn. Với bà, giữ bến không chỉ là nhiệm vụ. Đó là lời hứa với người anh đã nằm lại và người cha già đợi ở quê.
Ông Cẩn nhớ rõ việc của mình: tháo lắp cầu phao gỗ, tải trọng 15 tấn, dài hàng trăm mét, được cho là lớn nhất miền Bắc thời đó. Làm việc ấy giữa dòng nước xiết, dưới bom đạn, ông gọi là một cuộc đấu trí thực sự.
Nay tóc đã bạc, bà Mão vẫn về bến cũ mỗi dịp tháng Bảy, đứng trước bia tưởng niệm cùng những người đồng đội còn lại. Bà nhắn người trẻ nhớ lời Bác dạy: "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền." Bà mong lớp sau giữ tinh thần xung phong ấy trong học tập và sáng tạo, vì đó là cách tri ân liệt sĩ ý nghĩa nhất.
Trước đây tôi nghĩ "xung phong" chỉ đơn giản là một từ trong sách. Đọc chuyện bà Mão, tôi được cảm nhận rõ sự "xung phong" ấy là một buổi chiều, một người cha và một cô gái hơn hai mươi tuổi nói "con đi". Nền hòa bình mà chúng ta đang sống được đánh đổi bằng những lựa chọn như thế.



