Khác

Người gác sóng Cồn Cỏ – đôi mắt không ngủ giữa trùng khơi lửa đạn

Bài viết khắc họa chân dung người chiến sĩ quan sát viên kiên cường trên Đảo Cồn Cỏ, với tinh thần cảnh giác cao độ, ý chí bền bỉ và lòng quả cảm trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. Từ một thanh niên hăng hái tham gia công tác địa phương, Thái Văn A đã trở thành “đôi mắt” tin cậy của trận địa, góp phần quan trọng vào chiến công bảo vệ vùng biển tiền tiêu của Tổ quốc.

Quảng Trị10/04/2026Nguyễn Thái Quý (Phường Đồng Hới)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sinh năm 1942 trong một gia đình người Kinh tại thôn Liên Hóa, xã Trung Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, Thái Văn A trưởng thành trong bầu không khí sôi nổi của đất nước sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Được học tập và rèn luyện trong môi trường xã hội mới, ông sớm thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Từ việc hỗ trợ hợp tác xã tính thuế nông nghiệp, tham gia dạy bổ túc văn hóa cho đến làm công tác thông tin xã, ông luôn là người đi đầu, tận tụy và nhiệt huyết. Những đóng góp ấy đã hai lần được cấp huyện khen thưởng, và năm 1961, ông vinh dự đứng vào hàng ngũ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam.

Năm 1962, Thái Văn A lên đường nhập ngũ. Tại đơn vị pháo cao xạ, rồi sau đó chuyển sang lực lượng trinh sát, ông không ngừng nỗ lực học tập các khoa mục chuyên môn phức tạp. Với tinh thần cầu tiến và ý chí bền bỉ, mọi nội dung huấn luyện đều được ông hoàn thành xuất sắc, nhiều lần được đơn vị biểu dương và công nhận là đoàn viên tiên tiến.

Mùa hè năm 1963, ông được điều ra công tác tại đảo Cồn Cỏ – một vị trí chiến lược quan trọng ngoài khơi. Nhận thức rõ ý nghĩa sống còn của đảo, Thái Văn A kiên trì rèn luyện để trở thành một quan sát viên tinh nhuệ, với “đôi mắt và đôi tai ngàn dặm”. Dù ngày hay đêm, trong nắng gắt hay gió bão, ông luôn giữ trạng thái tập trung cao độ, phát hiện từng dấu hiệu nhỏ nhất trên biển và bầu trời.

Trong ba năm bám trụ trên đảo, ông đã tham gia phục vụ hàng trăm trận chiến, trực tiếp góp mặt trong 135 trận, góp phần cùng đơn vị bắn rơi 20 máy bay địch. Không chỉ là người quan sát, ông còn là người mở đầu cho nhiều chiến thắng nhờ khả năng phát hiện sớm và báo cáo chính xác.

Một đêm tháng 8 năm 1963, trong ánh trăng mờ, tàu biệt kích địch lợi dụng bóng mây và tắt đèn để lén tiếp cận đảo. Với sự nhạy bén, Thái Văn A đã kịp thời phát hiện và báo cáo lên chỉ huy, buộc đối phương phải vội vã tháo chạy khi bị lộ.

Ngày 8/8/1964, sau những động thái nghi binh của địch, hai chiếc máy bay F.100 bất ngờ bay thấp tấn công đảo từ hướng tây nam. Nhờ phát hiện kịp thời âm mưu này, ông đã giúp các trận địa chủ động sẵn sàng chiến đấu. Khi máy bay địch vừa tiếp cận, hỏa lực ta lập tức khai hỏa, bắn rơi chiếc đi đầu, buộc chiếc còn lại phải hoảng loạn rút lui.

Đến ngày 11/3/1965, một trận chiến ác liệt diễn ra khi tàu khu trục và nhiều tốp máy bay địch phối hợp tấn công đảo. Trong khi một số máy bay nghi binh ở phía nam, sáu chiếc phản lực bất ngờ lao xuống từ hướng đông, lợi dụng ánh mặt trời để che mắt. Nắm chắc tình hình, Thái Văn A nhanh chóng báo động và truyền tin về sở chỉ huy. Nhờ đó, các trận địa kịp thời phản ứng, bắn hạ chiếc máy bay đi đầu, phá vỡ đội hình tấn công của địch.

Trong chính trận chiến đó, bom địch đã đánh trúng chân đài quan sát, khiến ông bị thương. Dù đau đớn và bị chấn thương nặng, Thái Văn A vẫn kiên cường bám trụ, không rời vị trí, tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi trận chiến kết thúc, góp phần cùng đơn vị bắn rơi thêm hai máy bay nữa.

Không chỉ đối mặt với những trận đánh trực diện, từ ngày 5/4 đến 29/4/1965, ông còn phải căng mình theo dõi những đợt oanh tạc liên tục của địch. Có ngày, hàng chục quả bom nổ chậm được thả xuống đảo. Với sự bình tĩnh và chính xác, ông đã ghi lại từng vị trí bom, cung cấp thông tin quan trọng cho lực lượng công binh xử lý an toàn.

Thái Văn A là hình mẫu tiêu biểu của người chiến sĩ trẻ thời chiến – kiên cường, trách nhiệm và tận tụy. Dù trong hoàn cảnh hiểm nguy, ông luôn giữ vững tinh thần chiến đấu, không rời vị trí khi bị thương, đồng thời luôn quan tâm, hỗ trợ đồng đội, xây dựng tinh thần đoàn kết trong đơn vị.

Với những đóng góp xuất sắc, ông đã được trao tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, ba Bằng khen, hai năm liên tiếp đạt danh hiệu Chiến sĩ giỏi, Chiến sĩ thi đua và được bình chọn là đảng viên xuất sắc nhất trên đảo. Ngày 1/1/1967, ông vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân – phần thưởng cao quý ghi nhận những cống hiến không mệt mỏi của người lính nơi đầu sóng ngọn gió.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn