NGƯỜI GIAO LIÊN NỘI THÀNH
NGƯỜI GIAO LIÊN NỘI THÀNH Hồi ký của đồng chí LÊ THỊ TẦN – Nguyên Thường vụ Hội Phụ nữ Quảng Đà

Hồi năm 1969, tôi về làm Bí thư Ban cán sự khu phố Ngũ xã thuộc thành phố Đà Nẵng, bà Nguyễn thị Lịnh cũng được chuyển từ Điện Bàn về công tác ở đây. Bà hoạt động giao liên từ khi Điện Bàn còn ngột ngạt của luật 10/59. Lúc về đơn vị, bà tiếp tục công tác giao liên, tuổi bà đã 60, chồng mất sớm, có 2 người con và 1 người dâu đều tham gia bộ đội địa phương.
Năm 1968, bà đột ngọt nhận được giấy báo tử gởi về gia đình - chị con gái Phạm Thị Hai đã chiến đấu hy sinh tại xã Xuyên Thái, huyện Duy Xuyên. Bà kể lại: “Nhận được tin con hy sinh mà tay chân rụng rời, tôi định vào nơi đó để biết mộ của con, thế nhưng chiến trường lúc đó bom đạn ác liệt quá không thể nào vào được, rồi tôi đắp nấm mộ nó trong vườn, đặt bàn thờ để sớm chiều cúng cơm, hương khói”. Hồi này, hai vợ chồng người con trai cùng công tác trong huyện thường ghé về thăm bà nhiều hơn để với bớt nỗi buồn của mẹ. Bà thầm hy vọng ở người con dâu đang mang thai 4 tháng rưỡi, lỡ có điều gì cũng có một cháu nội tương lai ở với bà. Nhưng điều bất hạnh đâu đã hết, chưa đầy một năm sau, bà nhận được tin báo về anh con trai Phạm Phú Triết – cán bộ trung đội và người dâu là Hồ Thị Tầm - Huyện đội phó Điện Bàn đều hy sinh trong trận chống càn ngày mồng 4-5-1969 (Âm lịch) tại xã Điện Nam, huyện Điện Bàn. Bà lấy khăn thấm nước mắt mà lòng dạ đau như cắt, lần này bà bất chấp đạn bom, lăn lộn đến vùng chiến sự mới xảy ra ngày hôm qua để cúng lễ khai mộ cho con. Đến nơi, quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên có cả xe tang, trực thăng quần lộn bám giữ, chờ đợi ngày một ngày hai vẫn không đến được mộ, bà phải quay về. Từ đó, bà sống cô đơn, ở nương nhờ nhà bà con gần đồn Ngã ba Cẩm Lý. Hoàn cảnh như vậy nên bà sống cùng đơn vị với tôi nhiều hơn ở nhà. Công việc gì đơn vị giao bà làm ngay, coi công việc cách mạng như việc nhà mình và đã đã trở thành giao liên chính của đơn vị. Từ việc chuyển truyền đơn, thư từ, kíp nổ…đến dẫn đường cán bộ vơ sở cách mạng vào ra thành phố tất cả đều trót lọt, an toàn, những hiểm nguy luôn kề cận.
Hè năm 1970, dịp lễ vu lan, bà dẫn đường tôi vào khu phố nội thành công tác. Hồi này, tôi không còn giấy tờ hộ thân, nên hai bà cháu cùng đi. Bà gánh gánh lá chuối đi trước, tôi theo sau, gần một đại đội lính đi càn quét ở cùng C về đnag tập hợp trên mặt đường. Một tên chiêu hồi trong bọn trông thấy tôi liền mách bảo lính bắt. Lập tức chúng gọi máy về sở chỉ huy đem xe ra chở tôi. Thừa cơ chờ đợi xe đến, tôi giả vờ xin vào nhà dân uống nước rồi vượt rào chạy trốn, nghe tiếng mụ chủ nhà hô hoán: “Con Việt cộng chạy rồi” bọn lính tràn vào xóm bám theo đuổi bắn. Tôi lũi theo mương nước xen lẫn với dân đang làm thuỷ lợi, được bà con ở đây che chở tôi chạy về đến đơn vị gặp bà vừa về. Hai bà cháu ôm nhau vừa mừng vừa khóc. Bà kể lại, chúng bắt tôi rồi, chân bà không bước được nữa. Gánh lá chuối trên vai, vừa đi vừa liếc nhìn lại, biết tôi không thể nào thoát được tay chúng. Đi tiếp một đoạn bà rẽ vào xóm nhà dân, vừa chạy mà nước mắt đổ dài. Bà về tới đơn vị báo tin, rồi trở lại gần đó thăm dò nghe ngóng tin tức. Bà nói:
- Tôi có khuyết điểm là không bảo vệ được cô.
Tôi cố gắng an ủi, khuyên giải bà không có khuyết điểm. Bọn chiêu hồi biết mặt tôi, chứ bà đâu biết mặt chúng. Bà mới yên lòng, tôi biết bà rất thương cảm tôi cùng cảnh ngộ như con dâu của bà. Bà mong sao điều bất hạnh ấy đừng đến với ai nữa.
Những năm gần cuối cuộc chiến tranh, địch càng đánh phá ác liệt, đơn vị ở nhờ nhà dân bám trụ. Đêm ngữ hầm. Máy bay C130, tàu soi hoạt động không đêm nào ngơi, chúng bắn phá bừa bãi cả tiết hanh khô cũng như mùa mưa lụt cố đánh bật dân nơi đây vào khu dồn, có hôm chúng ném bom lân tinh, nhà bốc cháy, lân tinh bén vào hầm trú ẩn sém cả áo quần, khói thuốc đạn ngột thở bà vẫn bình tĩnh dừ suốt đêm không ngủ được nhưng hôm sau bà vẫn vui vẻ đi làm nhiệm vụ.
Vùng A, B Điện Bàn địch nống ra cày ủi, phát quang, đơn vị tạm chuyển vào Xuyên Trà, đến nơi tôi nhắn bà đưa cở sở nội thành vào. Bà chưa lần nào đi con đường này, phải qua nhiều đồn bót địch, hành lang trắng mới về tới đơn vị, lần đầu bà dẫn cơ sở nhằm hướng núi đi lên không biết đi lại ngay vào cửa đồn địch, lính gác chặn hại hỏi:
- Các ông bà đi đâu đậy?
Bà lường trước khi đi con đường này lạ này thế nào cũng gặp địch, sẵn hương đèn trên tay bà đưa cho lính xem rồi bình tĩnh trả lời:
- Hồi Việt Minh đánh nhau với Pháp, gia đình bà con tôi chạy tản cư vào đây, ông bà, con cái đau sốt rét chết chôn vùng này. Nay hoà bình rồi vào tìm mộ thắp hương, tìm được dời mộ về.
Nghe nói có lý, số lính cho bà ra cửa sau chỉ hướng đi bà đã lần tìm về đến đơn vị. Về đây ăn uống có phần kham khổ, nhưng đơn vị lo cho bà đủ trầu cau, thế là bà vui lòng.
Chi bộ cơ quan nhiều lần tuyên truyền, giới thiệu bà vào Đảng. Bà nói:
- Làm người đảng viên cộng sản khó lắm, bản thân tôi già rồi, lại không biết chữ, vào Đảng có ích lợi gì, tôi hứa cố gắng làm tròn nhiệm vụ của cách mạng giao là tốt lắm rồi.
Mùa hè năm 1974, nhiệm vụ chuẩn bị giải phóng thành phố Đà Nẵng càng khẩn trương và cấp bách. Đơn vị dời về phía Bắc sông Thu Bồn ven đường 100 để đón cán bộ cơ sở ra vào thành phố ngày càng nhiều và thuận tiện hơn. Đầu tháng 8-1974, bà dẫn đồng chí Sơn quận uỷ viên, đồng chí Hiệp đều hoạt động hợp pháp của khu phố về nhận nhiệm vụ mới. Bà và hai anh rất vinh dự được đồng chí Bí thư Đặc khu uỷ đến thăm hỏi động viên. Sáng hôm sau, bà đưa các anh trở về Đà Nẵng, cả buổi sáng hôm ấy nhiều chuyến xe khách chạy lên xuống con đường này đều thông suốt mới đến lượt bà và các anh đi. Đến cây số 10 Ái Nghĩa – Vĩnh Điện, gặp phải một trung đoàn quân chủ lực nguỵ kéo lên cứu nguy Thượng Đức, bỗng phía sau xe chớp nổ, súng từ hai bên bắn xối xả vào đội hình quân địch. Chiếc xe đò lọt vào giữa trận đánh, tài xế chỉ còn biết lái xe chạy bán sống bán chết để thoát nạn, về đến Vĩnh Điện bà chia tay các anh rồi quay về đơn vị báo tin trong khi áo quần còn khét mùi khói đạn.
Vào những ngày cuối tháng 3-1975, đơn vị khu phố còn đảm nhận thêm nhiệm vụ đặc biệt do đồng chí Bí thư Quận uỷ phân công, công việc của bà tăng lên gấp bội, liên tục ra vào thành phố như con thoi. Có lúc bà thổ lộ:
- Đi lại kiểu này có ngày địch cũng cưa cổ, nói vậy chứ công việc cách mạng cần phải đi thôi.
Khí thế bên ngoài chuẩn bị cho tấn công giải phóng thành phố càng khẩn trương, nhộn nhịp khiến lòng bà thêm phấn chấn, dù tuổi cao sức yêu với bao đau buồn chồng chất của riền mình đều chìm lắng, bà chỉ ước mong chiến tranh chấm dứt, quê hương được giải phóng là sướng lắm rồi.
Bà được giao nhiệm vụ không chỉ dừng lại ở trạm liên lạc mà đến thẳng nhà các đồng chí quận uỷ hợp pháp, các cơ sở cách mạng bên trong nội thành để truyền đạt ý kiến của lãnh đạo kịp thời.
Ngày 25-3, đơn vị giao bà vào mời anh Sơn - Quận uỷ viên hoạt động hợp pháp về Ban Thường vụ Quận uỷ nhận chỉ thị khởi nghĩa. Ngày 27-3, đơn vị cử bà vào bàn với anh Sơn, anh Hiệp chuẩn bị mọi phương tiện ra vùng ven đưa bộ phận chỉ đạo quận vào thành phố - Mặc dù lúc này các binh chủng quân nguỵ kéo dồn về đây đông đúc, kiếm soát nghiêm ngặt quyết “tử thủ” Đà Nẵng. Nhưng mọi nhiệm vụ bà được phân công đều hoàn thành, góp phần quan trọng cho sự chỉ đạo tấn công và nổi dậy của quận uỷ kịp thời và nhanh gọn.
Chiều ngày 29 – 3, thành phố Đà Nẵng giải phóng. Trong không khí cả thành phố tràn ngập niềm vui chiến thắng, bà gặp lại tất cả anh chị em cán bộ cơ sở cách mạng tay bắt mặt mừng, cảm ơn sự giúp đỡ, bà hoàn thành nhiệm vụ. Bà cũng thực lòng xin lãnh đạo đơn vị cho bà được trở về quê sinh sống. Khi tôi viết dòng hồi ký này, bà đã ở tuổi 84, là mẹ của 3 liệt sĩ – Bà mẹ Việt Nam anh hùng.



