Người học trò của Joliot-Curie và chiếc xe đạp giữa chiến khu Việt Bắc
Đang làm luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của nhà vật lý Frédéric Joliot-Curie, Ngụy Như Kon Tum trở về nước cuối năm 1939. Trong kháng chiến, ông đạp xe khắp Việt Bắc để mở trường và biên soạn sách vật lý bằng tiếng Việt.
Đầu năm 1939, tại Paris, Ngụy Như Kon Tum đứng trước một cơ hội mà rất ít người làm khoa học đương thời có được: ông được nhà vật lý Frédéric Joliot-Curie nhận hướng dẫn luận án tiến sĩ.
Frédéric Joliot-Curie là con rể và cộng sự của Marie Curie. Cùng vợ là Irène Joliot-Curie, ông đã được trao Giải Nobel Hóa học năm 1935 cho công trình về hiện tượng phóng xạ nhân tạo. Được làm nghiên cứu sinh trong phòng thí nghiệm của một nhà khoa học như vậy có thể mở ra cho Ngụy Như Kon Tum một sự nghiệp rộng lớn tại châu Âu.
Nhưng Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Phòng thí nghiệm của Joliot-Curie bị Bộ Quốc phòng Pháp trưng dụng. Nếu muốn tiếp tục ở lại làm việc, nhà khoa học trẻ người Việt phải đáp ứng hai điều kiện: xin nhập quốc tịch Pháp và được Bộ Quốc phòng Pháp tuyển dụng.
Theo lời kể về sau của Ngụy Như Kon Tum, chính người thầy đã khuyên ông rằng đất nước của ông cần ông hơn nước Pháp.
Cuối năm 1939, Ngụy Như Kon Tum trở về Việt Nam, để lại phía sau luận án còn dang dở.
Tên của ông đã là một câu chuyện đặc biệt. Ngụy Như Kon Tum sinh ngày 3 tháng 5 năm 1913, chưa đầy ba tháng sau khi tỉnh Kon Tum được thành lập. Cha ông, cụ Ngụy Như Bích, là một viên chức gốc Huế đang làm việc tại vùng đất này. Để ghi nhớ nơi con trai chào đời cũng như một dấu mốc mới của địa phương, người cha đặt tên con là Ngụy Như Kon Tum.
Thuở nhỏ, ông nổi tiếng học giỏi. Sau khi tốt nghiệp Thành chung loại xuất sắc tại Trường Quốc học Huế năm 1930, ông nhận học bổng ra Hà Nội học tại Trường Bưởi.
Năm 1932, Ngụy Như Kon Tum đồng thời đỗ Tú tài bản xứ, Tú tài Tây ban Toán và Tú tài Tây ban Triết. Thành tích ấy đem lại cho ông một suất học bổng toàn phần sang Đại học Sorbonne ở Paris.
Chỉ trong ba năm, ông hoàn thành bằng cử nhân khoa học với kết quả xuất sắc. Ba năm sau, ông nhận bằng thạc sĩ Lý – Hóa và được ghi nhận là người Việt Nam đầu tiên đạt học vị thạc sĩ vật lý tại Pháp.
Khi trở về nước, Ngụy Như Kon Tum giảng dạy tại Trường Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn rồi Trường Bưởi tại Hà Nội. Chương trình học lúc ấy sử dụng tiếng Pháp. Ngay cả khi học về các hiện tượng xảy ra trong đời sống hằng ngày, học sinh Việt Nam vẫn phải gọi chúng bằng ngôn ngữ của chính quyền thuộc địa.
Để học sinh có một không gian sinh hoạt bằng tiếng mẹ đẻ, ông thành lập Đoàn Rồng. Tổ chức gồm nhiều đội nhỏ mang tên các danh nhân và nhà yêu nước Việt Nam. Thành viên cùng đi tham quan di tích, tìm hiểu đất nước và tuân theo một quy định đặc biệt: trong sinh hoạt chỉ sử dụng tiếng Việt.
Đó là một cách giáo dục lòng tự trọng dân tộc không cần tới những lời diễn thuyết lớn lao.
Ngụy Như Kon Tum còn cùng Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Phúc Thông và một số trí thức sáng lập báo Khoa Học. Tờ báo sử dụng tiếng Việt để giải thích các khái niệm khoa học hiện đại, đồng thời từng bước xây dựng hệ thống thuật ngữ chuyên môn cho nền giáo dục tương lai.
Tháng Tám năm 1945, thời cuộc thay đổi nhanh chóng. Sau khi nhân dân Hà Nội giành chính quyền, Ngụy Như Kon Tum cùng Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên và Hồ Hữu Tường bàn bạc rồi gửi điện vào Huế, đề nghị vua Bảo Đại thoái vị, giao quyền cho chính phủ cách mạng để tránh một cuộc xung đột trong nước.
Bức điện được gửi ngày 22 tháng 8 năm 1945. Nội dung nhấn mạnh rằng chính phủ nhân dân cách mạng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch đã thành lập và việc thoái vị sẽ góp phần củng cố, thống nhất nền độc lập.
Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng đã giành thắng lợi tại nhiều địa phương, bức điện không phải yếu tố quyết định duy nhất. Nhưng nó thể hiện lựa chọn của một nhóm trí thức đến từ cả ba miền: đặt sự thống nhất và nền độc lập của đất nước lên trên những khác biệt riêng.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Ngụy Như Kon Tum tham gia xây dựng nền giáo dục mới. Ngày 15 tháng 11 năm 1945, Trường Đại học Quốc gia Việt Nam tổ chức lễ khai giảng tại Hà Nội dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Buổi lễ diễn ra chỉ 88 ngày sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và 74 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập. Trong khi chính quyền mới phải chống đói, chống nạn mù chữ và đối diện với nguy cơ chiến tranh, việc mở lại đại học cho thấy giáo dục bậc cao đã được xem là một phần của công cuộc bảo vệ nền độc lập.
Cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngụy Như Kon Tum rời Hà Nội lên Việt Bắc.
Theo lời con gái ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng có ý giao cho ông chức Bộ trưởng Giáo dục. Ngụy Như Kon Tum xin không nhận và giới thiệu Nguyễn Văn Huyên, còn mình đảm nhiệm công việc thuộc ngành trung học.
Không có ô tô đưa ông tới các trường nằm rải rác trong chiến khu. Phương tiện gắn với nhà vật lý thời ấy là một chiếc xe đạp cũ.
Ông đạp xe qua những con đường rừng để xây dựng mạng lưới trường trung học, kiểm tra việc dạy học và tìm cách duy trì các lớp giữa chiến tranh. Có lần ông gặp bom, suýt mất mạng. Một lần khác ông ngã xe, bị thương rách mặt. Sau mỗi chuyến đi, công việc vẫn tiếp tục: mở trường, chuẩn bị giáo viên và biên soạn sách giáo khoa vật lý bằng tiếng Việt.
Người từng nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của Joliot-Curie nay phải gây dựng giáo dục bằng những phương tiện giản đơn nhất. Nhưng chính lúc ấy, kiến thức ông mang từ Sorbonne trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
Năm 1951, ông được cử làm Giám đốc Trường Sư phạm cao cấp tại Khu học xá Trung ương ở Nam Ninh, Trung Quốc. Sau ngày miền Bắc giải phóng, ông trở về Hà Nội, tham gia xây dựng ngành đại học và giảng dạy vật lý tại Trường Sư phạm Khoa học.
Năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm Ngụy Như Kon Tum làm hiệu trưởng đầu tiên. Ông giữ cương vị ấy đến năm 1982, trở thành vị hiệu trưởng tại nhiệm lâu nhất trong lịch sử nhà trường.
Ngụy Như Kon Tum không điều hành trường chỉ từ bàn giấy. Mùa thu năm 1958, khi sinh viên đi lao động nông nghiệp tại Bình Đà, Hà Đông, thầy hiệu trưởng cũng chăn trâu, gánh lúa và đào kênh cùng mọi người.
Trong đợt tuyển sinh tại Nghệ An, ông biết một thí sinh miền núi phải bỏ dở bài thi vì đau bụng. Ông cho gọi người học trò tới hỏi rõ rồi yêu cầu cán bộ ghi lại hoàn cảnh để báo cáo ban chỉ đạo thi. Với ông, quản lý một trường đại học không chỉ là bảo đảm quy chế mà còn phải nhìn thấy con người phía sau mỗi bài thi.
Trong trận lụt lớn năm 1971, buổi sáng ông tiễn sinh viên lên đường nhập ngũ, buổi chiều lại xắn quần cùng mọi người chống lụt. Khi toàn trường tham gia cứu số gạo bị ngập tại Yên Viên, ông yêu cầu các khoa vận dụng chuyên môn để khắc phục hậu quả: cán bộ vật lý sửa máy móc điện tử, những ngành khác nghiên cứu mối hại thân đê và các vật cản dòng chảy.
Nhà vật lý từng rời Paris năm 1939 như vậy đã dành hơn bốn thập niên xây dựng giáo dục Việt Nam. Ông qua đời năm 1991. Tên Ngụy Như Kon Tum hiện được đặt cho đường phố, trường học, hội trường và một quỹ khuyến học tại chính tỉnh Kon Tum.
Nếu ở lại Pháp, ông có thể đã hoàn thành luận án trong một phòng thí nghiệm hiện đại. Nhưng khi trở về, công trình lớn nhất của ông không phải một bản luận án cá nhân. Đó là những lớp học bằng tiếng Việt, những cuốn sách vật lý, mạng lưới trường trong chiến khu và một trường đại học được xây dựng từ buổi đầu.
Lời người thầy Joliot-Curie năm 1939 cuối cùng đã trở thành một dự báo chính xác: đất nước thực sự cần Ngụy Như Kon Tum.
Và ông đã dành cả cuộc đời để đáp lại tiếng gọi ấy.



