Người Hùng Đất Quế
Tên tác phẩm :Người Hùng Đất Quế ; Tác giả : Phạm Thông
Nhà xuất bản : BTV Huyện ủy Quế Sơn ; Năm xuất bản : Tháng 10 năm 2014
Huyền Thoại Người Hùng Đất Quế
Thông tin nhân vật : Lê Quang Bửu
Hà Đông ( biệt danh )
1927- 2003
Quê quán: Xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
Chức vụ, cuộc đời: Ông nguyên là Đội trưởng Đội công tác vũ trang vùng đông huyện Quế Sơn. Ông nổi tiếng là người anh hùng mưu lược, kiên cường bám trụ nằm vùng bám đất và giữ lửa cách mạng suốt 20 năm trường kỳ chống Mỹ cứu nước.
Vào một buổi chiều mùa hè oi ả năm 1955, trên mảnh đất Quế Sơn chan chứa nắng gió và gian lao, Lê Quang Bửu đang tập trung cao độ để rèn luyện võ thuật cùng các đồng đội thì bất ngờ nghe tiếng mõ khua vang dồn dập từ phía xa báo hiệu hiểm nguy cận kề. Nhận biết có biến cố bất ngờ, ông lập tức hạ lệnh cho mọi người nhanh chóng phân tán, tìm nơi ẩn nấp an toàn trong rừng rậm bạt ngàn. Trước khi tách đoàn, Lê Quang Bửu cẩn thận dặn dò người em cùng họ là Lê Quang Tập phải chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Bí thư Huyện ủy Vũ Trọng Hoàng (còn gọi là Bốn Hương). Ông chỉ dẫn cho đồng đội cách lách theo đường đá đã bố trí từ trước, di chuyển về phía sau núi Ông Hường rồi tìm đường băng qua hướng Duy Xuyên, còn bản thân ông sẽ đảm nhận trọng trách nguy hiểm nhất là thực hiện kế sách đánh lạc hướng toàn bộ lực lượng địch.
Ngay khi vừa dặn dò đồng đội xong xuôi, Lê Quang Bửu bất ngờ lao vụt ra ngay trước mắt bọn địch đang tiến vào, cố tình để lộ bóng dáng để thu hút sự chú ý. Phát hiện bóng người, bọn chúng hò hoán dữ dội rằng Việt cộng xuất hiện rồi lập tức tập trung toàn bộ hỏa lực bắn xối xả và đuổi nạp theo ông. Mang trong mình tinh thần liều mình vì sự nghiệp chung, Quang Bửu chẳng sá chi chuyện sống chết hay hiểm nguy trước mắt. Lúc ẩn lúc hiện chập chờn như một con mồi biến hóa khôn lường, ông khéo léo dụ đám địch ra thật xa khu vực Huyện ủy đang trú đóng. Khi đã kéo kẻ địch tới khoảng cách an toàn, Quang Bửu nhanh chóng biến mất vào rừng sâu rồi chui tọt xuống một hang đá hẹp bí mật mà chỉ có một mình ông biết rõ địa hình. Nhờ sự hy sinh quả cảm và mưu trí ấy, ở phía núi Ông Hường, các đồng chí trong Huyện ủy đã kịp thời rút lui và thoát hiểm an toàn.
Sau trận lộ căn cứ nguy hiểm này, Lê Quang Bửu đã chủ động đề xuất với lãnh đạo Huyện ủy chuyển cơ quan về vùng Đông Quế Sơn. Nhìn nhận thực tế, ông phân tích rằng ở Trung Lộc tuy thế núi hiểm trở nhưng tình hình chính trị lại không mấy thuận lợi, trong khi về vùng Đông thì các đồng chí Huyện ủy lại nắm chắc được nhiều cơ sở cách mạng và thông thuộc địa hình địa vật hơn. Mặt khác, chuyển về vùng Đông sẽ mở ra cơ hội vàng để kết nối và bắt liên lạc với Tỉnh ủy một cách dễ dàng hơn. Quả đúng như những nhận định vô cùng sáng suốt của Lê Quang Bửu, khi chuyển về vùng Đông, Huyện ủy Quế Sơn đã nhanh chóng hình thành được đường dây liên lạc xuyên suốt từ bến Trà Dĩnh theo đường sông qua Bàn Thạch, xuống thẳng Hội An để bắt liên lạc với Tỉnh ủy. Từ mốc thời gian đó, phong trào quần chúng nhân dân đấu tranh đòi kẻ địch thực hiện Hiệp thương thống nhất đất nước tại Quế Sơn được dấy lên vô cùng mạnh mẽ. Cũng kể từ khi về đây hoạt động, Lê Quang Bửu đã chính thức thay tên đổi họ thành Hà Đông để tiếp tục bám dân, nắm vùng và hoạt động bí mật ngay trên chính mảnh đất quê hương.
Thách thức nối tiếp thách thức, Hà Đông được Huyện ủy tin tưởng phân công làm Đội trưởng Đội công tác vùng Đông Quế Sơn, phụ trách một địa bàn rộng lớn bao gồm các xã Phú Hương, Phú Phong, Phú Diên, Phú Thạnh, Phú Hiệp và Phú Thọ. Trở lại quê nhà trong vai trò mới, ông đã cùng các đồng chí, đồng đội kiên cường bám trụ, nằm vùng xây dựng được hàng trăm cơ sở cách mạng kiên trung. Mặc dù phải bí mật hoạt động trong vùng địch kiểm soát sau Hiệp định Giơ-ne-vơ theo chính sách đấu tranh bất bạo động, Hà Đông vẫn luôn bộc lộ nhãn quan quân sự sắc bén. Ông thường xuyên tâm sự với các đồng chí của mình rằng đối với bọn Mỹ - Diệm ngoan cố và độc ác, con đường duy nhất là phải tiến hành đấu tranh vũ trang kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị thì mới có thể giành lại độc lập và thống nhất đất nước. Xuất phát từ tư tưởng đó, ông đặc biệt chăm lo công tác lập căn cứ để rèn luyện võ thuật cũng như kỹ chiến thuật quân sự cho toàn Đội công tác. Ông kéo cả Đội công tác lên khu vực Hố Ràm - Hòn Mồ gần đập Khe Gụ, ven làng An Lộc thuộc xã Phú Hương để tập luyện ngày đêm. Tại đây, ông truyền dạy cho các đội viên những miếng võ hiểm hóc chuyên dùng để đánh địch thoát thân trong tình huống hiểm nghèo. Với góc nhìn của một người từng trải, bất kỳ vật dụng thường ngày nào trong tay ông cũng có thể nhanh chóng trở thành vũ khí tự vệ hữu hiệu. Ông rất ghét tư tưởng thụ động, vì vậy luôn răn dạy và nhắc nhở mọi người rằng không bao giờ được khoanh tay để địch bắt sống, mà phải tìm mọi cách chống trả quyết liệt nếu còn cơ hội dù là nhỏ nhất.
Bên cạnh việc luyện võ, Hà Đông còn cất công lên dãy núi giáp ranh giữa ba xã Phú Diên, Phú Hương và Phú Thọ để tìm kiếm các hang động kín đáo làm nơi giấu gạo và muối do các cơ sở nhân dân tiếp tế, nhằm bảo đảm nguồn lương thực hoạt động lâu dài. Ông cẩn thận lựa chọn những cái hang có miệng rộng vừa đủ một người nghiêng mình chui lọt để đưa đồ tiếp tế vào cất giữ. Cất giấu xong xuôi, ông tỉ mỉ tìm những hòn đá dẹp có màu sắc tiệp với xung quanh, kích thước vừa khít để bịt kín và ngụy trang miệng hang. Đáng chú ý, bao giờ ông cũng dành riêng cho mình một cái hang tuyệt đối bí mật không ai hay biết. Hà Đông không chỉ kiên cường mà còn có một giác quan vô cùng nhạy cảm. Việc luôn ở tư thế sẵn sàng tiến công và thường xuyên đối mặt với ranh giới sinh tử đã rèn giũa ông thành một con người luôn duy trì sự cảnh giác cao độ, hoài nghi hợp lý và có khả năng xử lý tình huống cực kỳ nhanh nhạy trước mọi biến cố.
Tuy nhiên, chỉ vài năm sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, tình hình địa phương trở nên vô cùng đen tối khi kẻ địch thiết lập tương đối hoàn chỉnh bộ máy chính quyền tay sai. Chúng tăng cường khủng bố, đàn áp và trả thù dã man những người từng tham gia kháng chiến cũ. Các đồng chí ở lại hoạt động bí mật như Hà Đông đều rơi vào vòng vây hiểm nghèo, nhiều người bị địch giết chết hoặc bị bắt bớ cầm tù. Điển hình như ông Lê Phận, ông Nguyễn Liễu ở thôn 4, thôn 5 Trà Dinh thuộc xã Phú Phong, hay ông Ngô Tuận ở Phương Trị thuộc xã Phú Hương cùng rất nhiều người khác bị địch bắt giữ và tra tấn dã man cho đến chết. Các cơ sở cách mạng bị vỡ hàng loạt khiến phong trào rơi vào bế tắc, nhiều đảng viên còn lại buộc phải nằm yên không dám hoạt động. Trong bối cảnh u uất đó, Hà Đông vẫn kiên trì dựa vào những cơ sở trung kiên còn sót lại để nuôi dưỡng mầm mống cách mạng. Bọn địch ở Quận lỵ Quế Sơn tức tối giao trách nhiệm cho Hội đồng hương chính các xã vùng Đông chỉ huy lực lượng dân vệ ngày đêm bủa ráp nhằm bắt sống bằng được Hà Đông. Chúng thậm chí còn treo giải thưởng lớn với nội dung: "Ai bắt được tên Việt cộng nguy hiểm Hà Đông thì sẽ được chính quyền Quốc gia thưởng hai triệu đồng" – một con số khổng lồ có giá trị tương đương cả trăm cây vàng thời bấy giờ.
Mặc cho những phần thưởng hậu hĩnh và mạng lưới bủa ráp dày đặc của kẻ thù, "hồn ma Việt cộng" Hà Đông vẫn cứ như một huyền thoại ẩn hiện khắp các làng quê thuộc sáu xã vùng Đông. Có một lần rơi vào thế bị bọn dân vệ Phú Hương vây ráp gắt gao, ông đã táo bạo chui thẳng vào nhà tên Khuê cảnh sát. Bằng sự bản lĩnh và mưu trí, ông vừa thuyết phục vừa khống chế tên Khuê, buộc hắn phải đưa ông ra tận đồng trống để thoát khỏi vòng vây an toàn. Nhớ lại những kỷ niệm về ông, bà Luận ở thôn 1 Mông Nghệ thuộc xã Phú Hương – một cơ sở ruột tin cậy của Hà Đông – thường tự hào kể lại với mọi người rằng ông Bửu thực sự là một con người xuất quỷ nhập thần. Dù địch bủa giăng khắp các lối xóm và quyết tâm phục bắt cho bằng được, nhưng chỉ vừa chợp tối là đã thấy ông ngồi lẳng lặng sau chái nhà. Khi thì ông vác cuốc trên vai giả làm người đi thảo nước ruộng, lúc lại gánh nhăm ngọn lang, có khi lại xách một xâu cá lờ đờ... Ông biến hóa đủ mọi hình dải và kiểu cách để qua mắt lực lượng tuần tra của địch nhằm tiếp xúc cơ sở. Sự kiên cường bám trụ của ông đã biến ông trở thành ngọn lửa giữ hồn cách mạng tại quê nhà.
Đến năm 1957, Đội công tác vùng Đông bị tổn thất nặng nề, chỉ còn lại vỏn vẹn vài người, trong đó có hai anh em họ là Hà Đông và Lê Quang Tập. Sau khi liên lạc được với cấp trên, thấy tình hình quá hiểm nguy, ông Tập có bàn với Hà Đông rằng anh em nên tìm đường vượt tuyến ra Bắc để bảo toàn lực lượng, nhưng Hà Đông một lòng một dạ kiên quyết ở lại mảnh đất quê hương để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh. Đến năm 1959, sau khi ông Tập ra đi và tiếp đó là ông Ngô Tuận cùng Bí thư Huyện ủy bị địch bắt tại Phú Thọ rồi bị sát hại, lực lượng cách mạng tại vùng Đông chỉ còn lại duy nhất một mình Hà Đông. Lúc này kẻ địch khủng bố cực kỳ khốc liệt, các cơ sở ở sáu xã vùng Đông bị đánh tróc gần hết, Huyện ủy Quế Sơn phải rút lên vùng núi cao thuộc huyện Phước Sơn. Tỉnh ủy cũng dời lên các huyện Hiền, Giằng, Phước Sơn. Mất hoàn toàn liên lạc với cấp trên, Hà Đông không chịu khuất phục mà tự mình lội ngược núi băng rừng tìm lên Phước Sơn.
Tại vùng núi cao này, hầu hết người dân là đồng bào các dân tộc Cơ-tu, Đẻ, Triêng. Đây là nơi trú quân và hoạt động tin cậy của các đồng chí nằm vùng ở vùng núi Quảng Nam. Vì hoàn toàn không biết tiếng dân tộc và phong tục tập quán địa phương, Hà Đông bị đồng bào bắt giữ và tra hỏi đủ điều. Bằng sự mưu trí, chân thành và lòng kiên trì, ông vừa dùng cử chỉ vừa giải thích để thuyết phục họ. Nhờ đó, ông được dân làng tin tưởng dẫn đường, vượt qua vô vàn gian nguy để tìm đến được căn cứ Cà-nông, Cà-đoạc, khôi phục lại liên lạc với các đồng chí Trần Huấn, Hoàng Thành – những lãnh đạo Huyện ủy Quế Sơn.
Trở về căn cứ lần này cũng là lúc Hà Đông tiếp thu Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng do Tỉnh ủy phổ biến. Như mở cờ trong bụng, ông thấy con đường đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam đã được vạch rõ. Đội công tác do ông phụ trách nhanh chóng được bổ sung thêm các đồng chí miền Bắc mới tăng cường và thanh niên địa phương. Từ đây, phong trào cách mạng vùng Đông Quế Sơn bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới. Bước sang những năm đầu thập niên 60, ông đã chỉ huy nhiều trận diệt ác phá kìm vang dội, xây dựng các căn cứ lõm ở vùng Đông Quế Sơn và trở thành một vị anh hùng hiên ngang trong lòng nhân dân.
Năm 1960, chấp hành lệnh cấp trên, Hà Đông rút lên căn cứ đèo Đá Mài nghỉ đêm. Phát hiện dấu vết, kẻ địch huy động hàng trăm quân bủa vây. Thuộc lòng địa hình địa vật, Hà Đông đã gài mìn hướng máu tiêu diệt nhiều tên địch áp sát. Ngay đêm đó, ông tổ chức cho số thanh niên mới thoát ly chui ra khỏi hang, xông lên đánh ép bọn Việt cộng ngụy, hỗ trợ đắc lực cho quân ta. Tối hôm sau, ông lại cùng họ xông vào hang mở đường máu, hô hoán làm địch hoảng loạn tháo chạy.
Giữa năm 1962, nhận tin báo từ trinh sát, Hà Đông khảo sát địa hình đường sắt chạy qua vùng Đông Quế Sơn để gài mìn đánh đoàn tàu quân sự địch. Mặc dù dây điện ngắn và quả mìn nặng 8kg nguy hiểm, ông vẫn kiên quyết thực hiện. Khi đoàn tàu quân sự địch từ Quảng Tin lao tới, quả mìn nổ tung làm lật tàu, gây thiệt hại nặng nề cho địch. Áp lực sóng nổ hất văng Hà Đông xuống hói trào máu mũi miệng, nhưng ông vẫn gượng dậy rút êm vào rừng cồi, để lại nỗi kinh hoàng cho quân thù.
Tiếp đó, ông chỉ huy tiêu diệt Chi khu Mộc Bài vào ngày 30 tháng 10 năm 1964. Cải trang thành lính biệt kích, Hà Đông cùng đồng đội thản nhiên đi vào cổng chính, xông vào phòng làm việc tiêu diệt Tên Bích - Phó cục trưởng cảnh sát Quế Sơn kiêm Trưởng Chi khu Mộc Bài ngay tại chỗ. Trận đánh táo bạo giữa ban ngày đã làm rung chuyển bộ máy chính quyền địch.
Trải qua 20 năm trường kỳ kháng chiến, hình ảnh Hà Đông - Lê Quang Bửu mưu trí, kiên cường bám trụ giữ lửa cách mạng tại vùng đất Quế Sơn đã trở thành một huyền thoại sống động, góp phần cùng cả nước đi đến ngày thắng lợi hoàn toàn 30 tháng 4 năm 1975.



