NGƯỜI KẾT NỐI HÀO KIỆT VÀ KHÚC TRÁNG CA THÁI PHIÊN
Bên cạnh chí sĩ Trần Cao Vân, trang sử vàng của phong trào khởi nghĩa Duy Tân năm 1916 còn khắc ghi một cái tên kiệt xuất khác của đất Quảng Nam – Đà Nẵng. Đó là Thái Phiên (sinh năm 1882) – vị thủ lĩnh tổ chức, người đã dâng hiến trọn vẹn tài năng, tài sản và xương máu của mình cho khát vọng giải phóng non sông khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp.
Người kết nối hào kiệt của dải đất miền Trung
Sinh ra tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – vùng đất địa linh nhân kiệt, từ thuở thiếu thời, Thái Phiên đã nổi tiếng là người thông minh, khẳng khái và giàu lòng yêu nước. Sớm chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân dưới ách cai trị của thực dân Pháp, ông đã chủ động từ bỏ con đường cử nghiệp thông thường để dấn thân vào các hoạt động yêu nước.
Với tầm nhìn rộng mở, Thái Phiên trở thành một trong những nhân vật nòng cốt của phong trào Đông Du và Duy Tân tại Quảng Nam – Đà Nẵng. Ông hoạt động không mệt mỏi, bí mật kết nối các sĩ phu yêu nước, các binh lính người Việt yêu nước trong quân đội Pháp và trực tiếp vận động hoàng đế Duy Tân đứng lên làm ngọn cờ tập hợp sức mạnh toàn dân. Dưới sự tổ chức chặt chẽ và tài tình của ông, một kế hoạch khởi nghĩa quy mô lớn đã được chuẩn bị công phu, lan rộng khắp các tỉnh miền Trung.
Khí tiết kiên trung dưới lưỡi gươm kẻ thù
Cuộc khởi nghĩa năm 1916 không may bị bại lộ vào giờ chót do có kẻ phản bội. Thực dân Pháp điên cuồng lùng sục và bắt giữ Thái Phiên cùng các đồng chí cốt cán tại vùng núi Thừa Thiên.
Trong ngục tù tăm tối, kẻ thù đã dùng mọi biện pháp từ dụ dỗ, hứa hẹn phong quan tiến chức cho đến những cực hình tra tấn khốc liệt nhất để ép ông khai ra mạng lưới cơ sở cách mạng. Thế nhưng, trước nanh vuốt của giặc, Thái Phiên vẫn giữ vững phong thái ung dung, tuyệt đối trung thành với tổ chức và đồng đội. Ông cùng Trần Cao Vân nhận hết trách nhiệm về mình để bảo vệ cho vua Duy Tân và giữ an toàn cho những đồng chí còn lại ngoài vĩ tuyến.
Không thể khuất phục được ý chí sắt đá của người con đất Quảng, ngày 17/5/1916, thực dân Pháp đã thi hành án chém đầu ông cùng chí sĩ Trần Cao Vân tại pháp trường An Hòa (Huế). Ông ngã xuống khi tuổi đời mới 34 – độ tuổi sung sức nhất của cuộc đời, giữ trọn lời thề son sắt với Tổ quốc.



