Người kỹ sư anh hùng của đất Loa thành
Ngày 30-8-2018, ghi nhận những chiến công và thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu của Trung tá Đào Duy Cảnh, người kỹ sư tiêu biểu cho lớp trí thức trẻ một thời hào hùng của dân tộc đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 1491/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho ông.
Ông Đào Duy Cảnh sinh ngày 19-8-1941 tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, TP Hà Nội trong một gia đình nhiều đời là nhà Nho nghèo có truyền thống hiếu học. Ngay từ thuở bé, Đào Duy Cảnh đã được bồi dưỡng tinh thần yêu nước từ chiếc nôi của gia đình. Nhưng cậu bé Cảnh cũng chịu nhiều bất hạnh khi chưa tròn 4 tuổi đã mồ côi cha. Năm 1950, nghi nhà ông chứa chấp Việt Minh, thực dân Pháp đã ập đến đào bới và tìm thấy căn hầm bí mật trong nhà. Không bắt được cán bộ ta, chúng ra sức đập phá rồi đốt nhà ông khiến kinh tế gia đình đã khó khăn lại càng kiệt quệ. “Lúc ấy chỉ muốn làm việc gì đó để đánh đuổi lũ thực dân ra khỏi đất nước, cho dân làng bớt khổ. Nhưng lực bất tòng tâm vì tôi còn quá nhỏ”-CCB Đào Duy Cảnh kể.
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, Đào Duy Cảnh tìm đến với những chiến sĩ cách mạng, được cử làm liên lạc, đứng vòng ngoài bảo vệ, hễ thấy bóng quân giặc thì kịp thời báo cáo để các đồng chí của ta có phương án phòng bị. Những năm ấy, khắp xã Cổ Loa thực dân Pháp tăng cường lập tề, rào làng. Chúng rào nhiều lớp và chông tre dày đặc quanh các xóm. Ngay cổng làng, chúng lập hai bốt canh và cho tuần đinh canh gác suốt ngày đêm. Vốn sẵn tinh thần yêu nước và lòng căm thù giặc, dù chịu sự vây hãm của kẻ thù, cán bộ và du kích vẫn được nhân dân Cổ Loa che chở trong nhà, ban ngày ẩn nấp bí mật, ban đêm lại đào hào và đi vận động. Bản thân Đào Duy Cảnh cũng cùng gia đình nuôi giấu, canh gác bảo vệ cán bộ.
Năm 1953, khu du kích được mở rộng và ngày một phát triển. Nhận thấy tố chất của chàng thiếu niên Đào Duy Cảnh, cán bộ xã đã đến tận gia đình, động viên gửi ông ra vùng tự do học tập, cũng là chuẩn bị nhân lực cho lâu dài. Vậy là thoát ly gia đình, Đào Duy Cảnh lên chiến khu. Ông nhớ lại: “Ngày ấy điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, chúng tôi vừa học tập vừa tích cực tự làm lụng kiếm sống như trồng thêm rau, khoai, sắn. Bản thân tôi tranh thủ thời gian nghỉ hè, sau khi hoàn thành công ruộng lại tranh thủ đi lao động ở công trường, mỏ than... làm thuê góp tiền ăn học”.
Và trời đã không phụ lòng người, Đào Duy Cảnh từng bước rèn luyện, phấn đấu trưởng thành. Tốt nghiệp chuyên ngành vô tuyến điện của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tháng 7-1965 ông nhập ngũ vào Trường Sĩ quan thông tin. Nhưng chỉ một tháng sau, trước yêu cầu nhiệm vụ của quân đội, ông được điều động về Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ), làm trợ lý xe kíp đạn tên lửa thuộc Ban Kỹ thuật Trung đoàn 238 (này thuộc Sư đoàn PK 363). “Một điều đáng tiếc đối với tôi là khi về đây, khóa huấn luyện chuyển loại binh chủng do chuyên gia Liên Xô lên lớp vừa kết thúc. Trong khi tất cả các kỹ sư đã được chuyển loại, riêng tôi phải tự mày mò tìm học”-Trung tá Đào Duy Cảnh nhớ lại.
Thấy ông đam mê công việc, lại liên tục đề đạt nguyện vọng được trực tiếp tham gia chiến đấu nên ở trung đoàn bộ một thời gian, kỹ sư Đào Duy Cảnh được biên chế về Tiểu đoàn 85. Lúc này, Tiểu đoàn 85 đã có 12 kỹ sư. Đào Duy Cảnh là kỹ sư số 13, người duy nhất là kỹ sư vô tuyến điện chưa được chuyển loại binh chủng. Ở đơn vị cơ sở với khối lượng khí tài và đạn tên lửa chủ yếu là điện tử, ban đầu kỹ sư Đào Duy Cảnh cảm thấy “lạc lõng”. Ông chia sẻ: “Một kỹ sư vô tuyến điện làm sao có thể đáp ứng được yêu cầu công việc đặc thù này đây. Trăn trở ấy cứ đau đáu trong tôi mỗi ngày. Không giấu dốt, xác định trách nhiệm là phải tự học và nhờ sự giúp đỡ của đồng đội mở mang kiến thức, lần hồi tôi đã quen dần”.
Kết quả là chỉ sau hơn nửa năm khổ luyện, kỹ sư Đào Duy Cảnh đã cơ bản làm chủ phần kỹ thuật của khí tài, phát hiện và sửa chữa kịp thời nhiều trường hợp hỏng hóc. Năm 1966, đế quốc Mỹ dùng máy bay B-52 leo thang đánh phá miền Bắc, từ khu vực đèo Mụ Giạ, miền tây Quảng Bình đến Vĩnh Linh, Quảng Trị và cực nam Quân khu 4. Theo chỉ đạo của trên, Trung đoàn 238 nhận nhiệm vụ cơ động vào chiến trường Khu 4 chiến đấu bảo vệ tuyến giao thông và nghiên cứu cách đánh B-52. Cùng các đơn vị của trung đoàn, kỹ sư Đào Duy Cảnh và Tiểu đoàn 85 nhanh chóng đưa khí tài, xe máy cơ động bám sát đội hình, vừa hành quân vừa triển khai sản xuất đạn cho các đơn vị hỏa lực chiến đấu. Trên đường hành quân, xe kíp do đồng chí Cảnh chỉ huy đến ngầm Cà Tang, Quảng Bình, gặp nước dâng to, cọc tiêu chỉ còn mập mờ, việc di chuyển lên phía trước của xe gặp nhiều khó khăn. Trước tình huống đó, ông đã lệnh cho đồng chí Khoán (lái xe) tắt đèn gầm, còn mình ra ngoài ca bin bám sát đầu xe, xi-nhan căn đường bên phải lợi dụng pháo sáng của địch để đi, quyết đưa xe vượt qua trọng điểm an toàn.
Tháng 7-1967, một số đạn tên lửa của Tiểu đoàn 84 bị hỏng phải đưa về Vĩnh Linh (Quảng Trị), Trung đoàn 238 lệnh cho Tiểu đoàn 85 cử một dây chuyền kiểm tra cơ động, trong đó có kỹ sư Đào Duy Cảnh cấp tốc cùng tổ chuyên gia Liên Xô vào hỗ trợ. Hơn một ngày làm việc, không phát hiện hỏng hóc, chuyên gia đề nghị đóng máy trở ra Hà Nội xin chi viện của quân chủng. Lúc này, mang tâm trạng lo ngại nếu chờ chuyên gia quân chủng tăng cường thì không biết lúc nào mới đến được, trong khi các đơn vị hỏa lực đang rất cần đạn chiến đấu, Đào Duy Cảnh mạnh dạn đề nghị cấp trên cho phép tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân hỏng hóc trong khi chờ đợi. Được sự đồng ý của chỉ huy các cấp cùng sự hỗ trợ của đồng đội, trải qua 56 giờ không chợp mắt giữa nắng gắt miền Trung, kỹ sư Đào Duy Cảnh đã phân tích hoạt động liên quan giữa xe kíp và đạn cùng sự phản hồi giữa đạn và xe kíp, sơ bộ kết luận do bó dây điện trên xe kíp bị lão hóa cộng với độ ẩm cao dẫn đến đánh lửa sang nhau. “Lần mò bằng đồng hồ đo, cuối cùng, chúng tôi đã tìm ra vị trí hỏng nên việc khắc phục khá đơn giản. Khí tài và đạn tên lửa được sửa chữa sớm, kịp thời cung cấp cho các đơn vị hỏa lực. Từng quả đạn được kiểm tra, trở về vị trí chiến đấu trước niềm vui sướng của mọi người. Vui mừng hơn là sau đó, 3 trong số đạn tên lửa được sửa chữa lần ấy đã đi vào lịch sử khi lần đầu tiên bộ đội tên lửa Việt Nam bắn rơi máy bay B-52 trên bầu trời Vĩnh Linh ngày 17-9-1967, làm cơ sở để quân chủng bổ sung hoàn thiện nội dung cuốn “Cẩm nang bìa đỏ” (tài liệu hướng dẫn cách đánh B-52) góp phần quan trọng vào Chiến thắng lịch sử Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không tháng 12-1972”-Trung tá Đào Duy Cảnh không giấu nổi niềm tự hào khi kể lại chuyện xưa.
Sau chiến công đó, cùng đồng đội, Đào Duy Cảnh vẫn miệt mài với những công việc hằng ngày của mình, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiều nhiệm vụ đột xuất trên giao với nhiều hành động “táo bạo”. Ví như lần cơ động xe kíp ra Hà Nội theo chế độ định kỳ do các chuyên gia Liên Xô đưa phòng thí nghiệm sang kiểm tra, hiệu chỉnh, sau khi qua Ngã ba Đồng Lộc chừng 1km, do đường hẹp, bánh sau xe bên phải tụt ra ngoài thành cống, kẹt lại khi trời vừa rạng sáng. Để bảo đảm an toàn cho khí tài, tránh địch phát hiện, ông nhanh chóng tổ chức ngụy trang xe, đồng thời quyết định tháo toàn bộ các tủ, khối của khí tài gửi nhờ nhà dân, đề phòng trường hợp nếu bị địch tập kích trúng thì chỉ hỏng vỏ xe. Sau đó, ông cùng đồng đội chia các ngả đi vận động chính quyền và các cơ quan chức năng giúp đỡ, nhất định không lật xe để bảo vệ bằng được khí tài quý hiếm. Rất may, khi mặt trời dần khuất núi cũng là lúc xe xích và lực lượng cứu hộ tới. Công an và thanh niên xung phong giơ cờ hiệu chặn xe từ xa để các lực lượng kéo xe kíp lên an toàn. Trên đường hành quân ra Bắc, nhiều lần gặp máy bay địch đánh phá, mặc dù bị sức ép bom, bị thương ở phần mềm chân trái nhưng với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, kỹ sư Đào Duy Cảnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đưa khí tài về bàn giao xong mới đi điều trị vết thương...
Sau 25 năm công tác, trải qua nhiều cương vị khác nhau, tháng 8-1990, rời vị trí trợ lý Phòng Kế hoạch tổng hợp, Văn phòng Bộ Quốc phòng, Trung tá Đào Duy Cảnh được nghỉ theo chế độ. Về với cuộc sống đời thường, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương, tham gia cấp ủy liên tục 20 năm. Giờ đây đã ở tuổi 78, do di chứng chiến tranh cũng như căn bệnh thấp khớp của tuổi già, buộc ông phải hạn chế một số hoạt động nhưng ông tâm sự, khi còn có thể ông sẽ cố hết sức. Ông cùng đồng đội trong Ban liên lạc CCB Trung đoàn 238 thường xuyên gặp mặt, tổ chức các chuyến đi thăm lại chiến trường xưa, cũng như động viên chia sẻ với các đồng đội có hoàn cảnh khó khăn. Ông Vũ Đắc Uyên, Trưởng ban liên lạc CCB Trung đoàn 238, nói: “Tuổi cao, sức khỏe giảm sút nhưng nhiều năm nay anh Cảnh luôn gương mẫu, là hạt nhân trong các hoạt động của ban liên lạc chúng tôi”. Qua tìm hiểu được biết, hiện nay mặc dù cùng gia đình sinh sống tại trung tâm TP Hà Nội, nhưng ông vẫn thường xuyên trở lại đất Cổ Loa, theo dõi từng bước chuyển mình của quê hương. Với những hiểu biết của mình, ông đang cùng địa phương bổ sung thông tin, hoàn thiện cuốn lịch sử Đảng bộ xã cũng như về dòng họ Đào ở đất Loa thành.



