Bài viết

NGƯỜI LIÊN LẠC CUỐI MÙA THÁNG TÁM

Hưng Yên01/12/2025Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1945. Những ngày nắng đổ lửa cuối tháng Bảy không chỉ thiêu cháy những cánh đồng lúa khô quắt mà còn hun nóng trái tim dân Việt đang sục sôi chuẩn bị cho một cuộc đổi đời. Nạn đói kinh hoàng vừa đi qua để lại những hình ảnh mà cả một đời người không thể quên: những cánh đồng hoang, những ga xép đầy tiếng rên của dân chạy đói, những cái xác bên vệ đường được phủ bằng tàu lá chuối. Theo Hồ Chí Minh Toàn tập – Tập 4, “Hơn hai triệu đồng bào ta đã chết đói trong mùa xuân Ất Dậu”, như một vết cắt tàn khốc vào lòng dân tộc.

Trong khung cảnh ấy, Lợi, chàng thanh niên 22 tuổi, làm nhiệm vụ liên lạc cho Việt Minh tại phủ Từ Sơn. Cha anh từng bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia phong trào chống thuế, và từ ngày ấy gia đình anh chỉ còn lại mẹ và mấy anh em nương tựa vào nhau. Lợi lớn lên bằng tiếng thở dài của mẹ và bằng nỗi căm uất của tuổi thơ bị tước mất cha. Vì vậy, ngay từ năm mười tám tuổi, anh đã tự nguyện tham gia đội tự vệ bí mật của Việt Minh.

Đầu tháng Tám, tin Nhật Bản đầu hàng Đồng minh vô điều kiện ngày 15/8/1945 dội về làng quê như tiếng sấm giữa trời quang. SGK Lịch sử 12 (NXB GDVN) ghi rõ: “Sự đầu hàng của Nhật tạo thời cơ ngàn năm có một để nhân dân Việt Nam vùng lên giành chính quyền.” Không khí toàn dân phấn chấn nhưng cũng đầy căng thẳng, bởi kẻ thù vẫn còn, và mỗi hành động sơ sẩy đều có thể dẫn đến đổ máu.

Chiều ngày 16/8, Lợi nhận được tin khẩn: mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Ủy ban Khởi nghĩa đã tới huyện. Phải lập tức chuyển về các xã trong đêm. Tờ mệnh lệnh chỉ khoảng hai trang giấy, nhưng lời lẽ sắc tựa lửa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta!”

(Hồ Chí Minh – Lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa, 13/8/1945).

Người huyện ủy bí mật cuộn tờ giấy vào ống tre nhẵn mịn, giao tận tay Lợi. Ông đặt tay lên vai anh: – Đây là mệnh lệnh của lịch sử. Cháu mang được nó về xã là mang cả tương lai về cho dân mình.

Lợi chỉ kịp gật đầu rồi lao đi. Trời đêm tháng Tám oi ả, trăng non cheo leo sau lũy tre. Con đường từ huyện về xã dài gần sáu cây số, phải vượt qua hai trạm gác của lính dõng và một bốt Nhật. Anh biết, chỉ một sơ suất nhỏ, không chỉ anh mà cả phong trào nơi đây sẽ bị đánh phá.

Đi được gần một cây số, từ xa đã thấy ánh đèn pin lia quét. Lợi bình tĩnh nép xuống bờ ruộng, nằm im giữa những bụi lác. Tiếng giày đinh của bọn lính dõng nghe nặng như dẫm lên ngực người. Một tên gằn giọng:

– Từ giờ đến đêm phải bắt cho ra bọn Việt Minh! Chúng nó đang rình để làm loạn!

Lợi nín thở. Màu trời đen sẫm soi bóng trên mặt nước ruộng như một tấm gương khổng lồ. Nếu chúng rọi đèn xuống đây, chắc chắn anh sẽ bị lộ. Nhưng thật may, đàn chó sủa ở đầu xóm làm chúng phân tán, rồi cả toán lính kéo nhau chạy về phía tiếng động. Anh chờ thêm một lát rồi tiếp tục len lỏi qua dãy tre gai, chạy dọc theo bờ đê để tránh đường chính.

Đến gốc đa đầu làng, Lợi gặp chị Hòa, đội trưởng phụ nữ cứu quốc. Dưới gốc cây, ngọn đèn dầu được che bằng lớp lá chuối khô chỉ đủ sáng thấy mặt người. Chị Hòa run run khi nhìn thấy ống tre:

– Thế là… đến rồi sao? – Vâng. Trung ương cho lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày mai xã mình họp dân tại đình làng.

Chị Hòa cắn môi, nước mắt ánh lên trong bóng tối:

– Bao nhiêu người chờ ngày này… Chồng chị bị Nhật bắn năm ngoái. Thiêng liêng thật đó em.

Hai người chia ra đi thông báo cho các tổ. Trong các ngõ làng tối om, tiếng gõ cửa nhẹ vang lên liên tục – ba tiếng, một tiếng, hai tiếng – ám hiệu của Việt Minh. Bà con thức dậy, mắt còn ngái ngủ, nhưng khi nghe tin Nhật đã đầu hàng, khi nghe tiếng gọi “Đến giờ cứu nước rồi!”, ai nấy bừng tỉnh. Ông Lý Nhàn, một người từng bị cướp lúa trong nạn đói, nắm chặt tay Lợi: – Bao năm dân mình chịu khổ. Đời tao tưởng không được thấy ngày này… Cảm ơn các chú.

Sáng 17/8, tại đình làng Phù Lưu, lá cờ đỏ sao vàng vốn được chị Hòa bí mật may từ mấy tháng trước cuối cùng cũng tung bay trên nóc đình. Dưới sân đình, hơn ba trăm người – già có, trẻ có – đứng chật như nêm. Tiếng trống vang liên hồi. Đội tự vệ của Lợi gác ở các ngả đường, tay chỉ có gậy tre và mã tấu nhưng lòng thì vững hơn thép.

Lợi đứng lên bục gỗ, giọng vang dài:

– Đồng bào! Nhật đã đầu hàng. Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim lung lay. Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã ra lệnh Tổng khởi nghĩa. Ngay hôm nay, nhân dân ta phải giành chính quyền về tay mình!

Cả đình làng như nổ tung. Tiếng hô vang dậy:

– Việt Nam độc lập!

– Ủng hộ Việt Minh!

– Đánh đổ chính quyền bù nhìn!

Theo tài liệu Văn kiện Đảng toàn tập, 1945, trong vòng mười ngày (14–24/8), chính quyền ở hầu hết các xã huyện Bắc Kì đều lần lượt về tay nhân dân. Và chiều hôm đó, làng Phù Lưu cũng chính thức giành trụ sở lý trưởng mà không đổ giọt máu nào. Lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên giữa tiếng khóc, tiếng hò reo, và tiếng chiêng rộn rã.

Khi mặt trời lặn, Lợi ngồi một mình bên bờ sông Đuống. Dòng nước tháng Tám đục ngầu phù sa, trôi lững lờ như mang theo cả quá khứ đầy đau thương. Anh nhớ cha, nhớ những mùa đói, nhớ bà con trút hơi thở bên vệ đường. Giờ đây, anh đã góp phần để quê hương đứng thẳng dậy.

Tối hôm ấy, mẹ anh ngồi vá áo dưới ánh đèn dầu. Thấy Lợi bước vào, bà chỉ nói một câu rất khẽ: – Con làm được rồi… Cha con chắc tự hào lắm.

Năm ngày sau, ngày 19/8/1945, Hà Nội giành chính quyền thắng lợi. Tin mừng lan khắp đồng bằng Bắc Bộ. Người dân trong làng lại kéo nhau ra đình, lần đầu tiên được nghe tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa qua lời đọc của cán bộ huyện. Và Lợi hiểu: đây chỉ mới là khởi đầu của hành trình dài.

Nguồn:Sưu tầm

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn