Người lính bên bờ kênh
CUỘC THI VIẾT “THỜI HOA LỬA”
Trường THCS An Ninh – Xã Phụ Dực – Tỉnh Hưng Yên
Kính thưa Ban Tổ chức cuộc thi “Thời Hoa Lửa”,
Kính thưa thầy cô và các bạn
Mỗi vùng quê trên dải đất Việt Nam đều có những câu chuyện bình dị mà thiêng liêng về một thời chiến tranh gian khổ. Quê hương Phụ Dực của em cũng vậy. Những con đường nhỏ, những bờ kênh yên bình hôm nay từng chứng kiến biết bao dấu chân của dân quân, bộ đội và những con người đã sống hết mình cho Tổ quốc. Lớn lên trong thời bình, chúng em chỉ biết về những năm tháng oanh liệt ấy qua lời kể của ông bà. Nhưng mỗi câu chuyện đều như một ngọn lửa nhỏ, thắp sáng lòng biết ơn và tự hào trong trái tim em. Vì thế, em xin được kể lại một câu chuyện có thật mà ông cậu em đã từng trải qua – câu chuyện về người lính trẻ bên bờ kênh, một kỷ niệm mà gia đình em không bao giờ quên.
NGƯỜI LÍNH BÊN BỜ KÊNH
Tôi sinh ra và lớn lên ở xã Phụ Dực, tỉnh Hưng Yên. Mảnh đất quê tôi yên bình là thế, nhưng ẩn sâu dưới từng thửa ruộng, từng con đường nhỏ vẫn còn lưu giữ nhiều dấu tích của một thời chiến tranh đầy gian nan. Câu chuyện mà tôi sắp kể được ông cậu tôi – một cựu dân quân – kể lại, diễn ra ngay trên chính quê hương này, vào những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Ngày ấy, dọc bờ kênh Lương quê tôi có một trạm gác nhỏ bằng tre và lá cọ. Trạm ấy do dân quân xã dựng lên để quan sát máy bay địch và hỗ trợ bộ đội vận chuyển hàng hóa qua tuyến đường thủy. Ông cậu tôi, lúc đó mới 19 tuổi, được phân công trực đêm tại đây
Ông kể rằng một buổi tối đầu mùa hè năm 1971, trăng bị mây che gần hết, trời tối hơn thường lệ. Ông đang ngồi ghi chép số lượng thuyền hàng đi qua thì bỗng nghe tiếng động mạnh từ phía bờ kênh. Khi chạy ra, ông thấy một người lính trẻ đang cố vịn vào thành thuyền, mặt tái mét vì kiệt sức.
Không cần hỏi nhiều, ông lập tức đỡ anh vào túp lều và nhóm bếp lửa sưởi ấm. Người lính ấy tự giới thiệu tên là Nguyễn Văn Tịnh, là liên lạc viên của đơn vị bộ đội đóng cách đó gần 10km. Anh bị đắm thuyền khi đang vận chuyển một túi thư quan trọng.
Điều làm ông cậu tôi nhớ mãi là dù người ướt sũng, tay chân run rẩy và bị thương ở vai, nhưng anh Tịnh vẫn ôm chặt túi thư vào lòng, không cho nó rời khỏi người dù chỉ một chút. Khi ông bảo:
– Anh để em giữ giúp cho. Anh cần nghỉ trước đã.
Người lính lắc đầu:
– Không được. Thư này phải đến đơn vị trước bình minh. Trong đó có sơ đồ di chuyển tránh bom… Chỉ cần sai một chút, thương vong sẽ lớn lắm.
Nghe đến đó, ông cậu tôi hiểu ngay: việc bảo vệ túi thư không chỉ là nhiệm vụ, mà là sinh mạng của cả chục con người.
Ngoài trời bắt đầu nổi gió, tiếng máy bay quần thảo từ xa vọng đến từng hồi. Người lính cố đứng dậy nhưng cả người run lẩy bẩy. Ông cậu tôi quyết định làm điều mà đến tận sau này ông vẫn tự hào: ông xin được thay anh mang túi thư giao cho đơn vị.
Anh Tịnh tròn mắt nhìn ông:
– Cậu còn trẻ lắm… Đường đêm nguy hiểm, bom đạn, lại không quen địa hình…
Nhưng ông chỉ cười:
– Anh bị thương rồi. Anh đi không kịp đâu. Không chỉ anh lo cho đồng đội, mà cả em cũng lo cho quê mình.
Sau khi băng bó lại vết thương cho người lính trẻ, ông cậu tôi khoác túi thư lên vai, dặn anh ở lại trạm gác chờ lực lượng đến đón. Rồi ông men theo bờ kênh, chỉ có ánh đom đóm và tiếng sóng vỗ dẫn đường.
Ông kể rằng đêm đó dài hơn bất cứ đêm nào ông từng trải qua. Nhiều lần máy bay rọi đèn chiếu quét, ông phải nằm rạp xuống bãi cỏ, tim đập thình thịch. Có lúc tưởng như không thể đi tiếp vì đường trơn và bùn ngập đến đầu gối. Nhưng cứ nghĩ đến những người lính đang đợi bản đồ di chuyển, ông lại gắng đứng lên.
Gần 3 giờ sáng, ông đến được điểm tập kết. Khi nhận túi thư, người chỉ huy nắm chặt tay ông, nói ngắn gọn mà dứt khoát:
– Cậu đã cứu đơn vị rồi.
Sáng hôm sau, người lính Tịnh cũng được đưa về trạm y tế xã. Gặp lại ông, anh chỉ nói một câu khiến ông nhớ suốt đời:
– Có những người không mang quân phục, nhưng trái tim đều là của người lính.
Nhiều năm sau, quê tôi yên bình trở lại. Bờ kênh Lương xanh tốt, trạm gác xưa không còn nữa, nhưng mỗi lần đi qua đó, ông cậu tôi vẫn chỉ cho tôi:
– Nơi đó, bác đã học được thế nào là trách nhiệm và lòng dũng cảm.
Và tôi hiểu rằng, những câu chuyện như thế chính là những “đóa hoa lửa” âm thầm mà rực rỡ của quê hương mình.
Ngày nay, bờ kênh Lương đã trở thành nơi người dân đi lại, trẻ em vui chơi, hoàn toàn không còn dấu vết của những ngày đêm căng thẳng dưới bom đạn. Nhưng với em, mỗi lần bước qua nơi ấy, hình ảnh người lính trẻ ôm túi thư trong mưa gió và bóng dáng ông cậu kiên định băng qua đêm tối vẫn như hiện lên trong tâm trí. Câu chuyện ấy nhắc nhở em rằng hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có – đó là kết tinh của lòng dũng cảm, của những hy sinh thầm lặng mà đôi khi chỉ một bờ kênh, một túp lều canh gác mới biết.
Em viết lại câu chuyện này với tất cả lòng biết ơn, mong rằng thế hệ của chúng em sẽ luôn trân trọng quá khứ, sống tốt hơn trong hiện tại và nỗ lực xây dựng tương lai xứng đáng với những người đã ngã xuống hoặc đã sống hết mình trong thời hoa lửa năm xưa.



