NGƯỜI LÍNH CHỨNG KIẾN GIỜ PHÚT LỊCH SỬ
Từ lời kể của cựu trưởng xe tăng 363, câu chuyện tái hiện những giờ phút lịch sử của Chiến dịch Hồ Chí Minh, khi người lính trực tiếp nhìn thấy sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Bài viết khắc họa cảm xúc, trách nhiệm và bản lĩnh của kíp xe trong khoảnh khắc đất nước sang trang.
Đối với ông Nguyễn Xuân Liêm, lịch sử không nằm trong sách mà nằm ngay trên tấm giáp thép 363. Ông trở thành người lính chứng kiến giờ phút lịch sử một cách rất tình cờ: từ người lái máy ủi mở đường năm 1972, rồi trưởng xe tăng trong mũi tiến công năm 1975. Mỗi chặng, ông đều đi qua bằng kỷ luật của binh chủng và bằng tình thương đối với nhân dân.
Ông kể rằng sau khi chiếm Long Khánh, đơn vị tăng được lệnh tổ chức đội hình nhiều mũi tiến vào Sài Gòn: đông, tây, bắc, nam. Mũi của ông theo trục Biên Hòa – Thủ Đức, có nhiệm vụ đánh chiếm các cơ quan đầu não còn lại và khống chế sân bay Tân Sơn Nhất để ngăn địch di tản bằng không quân. Địch lúc ấy như con tàu vỡ bánh lái, nhưng vẫn còn pháo binh tầm xa và các toán cố thủ rất ngoan cố.
Rạng sáng 26.4, 363 cơ động qua Sân bay Biên Hòa vừa bị ta chế áp. Trên đường băng còn la liệt xác máy bay A37, F5 cháy dở. Một vài khẩu cao xạ của địch bắn vãi những loạt đạn cuối. Trưởng xe phải ra lệnh đi zích-zắc, lùi nửa thân mỗi khi nghe tiếng rít khác thường. Pháo thủ 366 nạp từng viên xuyên, bắn có lựa chọn vào các ụ đề kháng mé ngoài. Bộ binh bám sát sau tăng, y tá vận động cứu thương ngay trên mép đường băng. Ông nói đó là lần đầu thấy rõ sự chênh lệch giữa sức mạnh quân sự còn sót và ý chí đã suy sụp của địch.
Những ngày sau đó, 363 liên tục tham gia các trận đánh mở cửa: ấp Bửu Long, khu Hàng Xanh, cầu Sài Gòn. Công binh ngụy chôn nhiều bãi mìn chống tăng, gài cả thuốc nổ dưới các dầm cầu. Nhiệm vụ của kíp xe là phải húc mở vật cản, giữ tốc độ cho mũi thọc sâu. Có lúc anh em chỉ còn vài chục viên 12,7, phải bắn tiết kiệm, còn pháo chính chỉ dùng cho các mục tiêu chắc chắn nhất.
Đêm 28.4, khi đội hình dừng ở ngoại ô, ông nghe tin Tổng thống Thiệu đã bỏ chạy, nội các ngụy rối loạn. Chính trị viên nhắc rằng giờ phút lịch sử đang rất gần. Nhưng trưởng xe lại lo hơn cho dân, vì trong thành phố còn rất nhiều kho tàng, trại lính chưa đầu hàng, dễ xảy ra hỗn loạn. Ông dặn đồng đội: “Chúng ta tiến vào để giải phóng, không phải để làm dân thêm sợ”.
Sáng 30.4, 363 nhận lệnh xuất phát thần tốc. Lái xe tăng tốc tối đa, bộ binh bám sau. Một quả B41 từ tầng nhà mé trái bắn xuống, nổ gần xích xe. Trưởng xe ra lệnh xoay tháp, bắn chế áp đúng cửa sổ rồi tiến tiếp. Khi áp sát dinh, ông nhìn thấy cờ trắng treo trên nhiều nóc nhà. Khoảnh khắc chiếc xe bạn húc đổ cổng, người lính trên 363 hiểu rằng mình đang đứng trong tâm của lịch sử.
Ông mô tả rất chậm: trong khoang thép nóng hầm hập, anh em không nói được lời nào. Khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, mệnh lệnh ngừng bắn truyền xuống. Trưởng xe giữ vững tinh thần kíp xe cho đến giây cuối, không cho bắn dù chỉ một viên. Bên ngoài, dòng người Sài Gòn đổ ra đường, mang nước và bánh cho bộ đội. Ông thấy những bà mẹ ôm lấy chiến sĩ mà khóc, giống hệt cảnh ở Phước Long ba năm trước.
Sau giờ phút lịch sử ấy, 363 được giao nhiệm vụ bảo vệ các mục tiêu: giữ trật tự quanh dinh, dẫn dân tránh bãi mìn, hỗ trợ tiếp quản kho tàng. Ông nói người lính tăng bước sang hòa bình bằng chính những việc rất đời thường đó. Lịch sử vì thế hiện lên không chỉ bằng chiến công, mà bằng lòng nhân còn lại.
Trở về quê năm 1987, ông tham gia Hội Cựu chiến binh, kể chuyện cho lớp trẻ nghe về giáo trình “lùi nửa thân”, về kỷ luật bắn có lựa chọn, về những ngày bom cạn nhưng ý chí không cạn. Tôi hiểu rằng ông chính là người lính chứng kiến giờ phút lịch sử của dân tộc bằng đôi mắt rất thật của kíp xe 363 – nơi thép và người từng hòa làm một để đất nước sang trang.



