NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG
Viết về người lính đặc công - Liệt sĩ Trần Văn Lý
NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG
***
Có những chuyện, tôi nghe từ hồi còn nhỏ xíu vậy mà đến khi lớn khôn rồi, mỗi lần nhớ lại lòng vẫn cứ bồi hồi, nghèn nghẹn y như mới nghe hôm qua. Trong mớ ký ức của tuổi thơ đầy gió đồng, nắng rẫy, cái tên làm tim tôi khẽ thắt lại mỗi lần nhắc đến, chính là ông ngoại tôi – liệt sĩ Trần Văn Lý.
Tôi lớn lên ở miền quê Nam bộ, nơi sông nước mênh mang, nơi những câu chuyện chiến tranh hồi đó cứ như gió chiều thổi qua rặng tre: buồn, lặng, mà da diết lắm. Từ nhỏ, tôi đã được nghe ông cậu tôi (em bà ngoại), má tôi, rồi mấy ông bà lớn tuổi cùng thời ngoại kể hoài kể mãi về ông – một người con trai mới tròn đôi mươi, sống hiền lành mà gan góc.
Tuổi trẻ của ông - lớn lên giữa lửa đạn và nghĩa nước
Vào khoảng năm 1967 - 1968, lúc chiến tranh giày xéo miền Nam mình, ở xã Mỹ Lâm có một chàng trai tên Trần Văn Lý. Gia đình ông thuộc dạng “thương nước hơn thương thân”. Ông bà ngoại cố nuôi chứa cách mạng, cưu mang cán bộ, chia từng lon gạo, từng trái bắp để nuôi quân kháng chiến. Chính vì vậy mà địch để ý hoài. Có lần, tụi nó mò tới khám xét, thấy dấu vết nghi ngờ liền bắt cha mẹ ông đi, rồi đốt luôn căn nhà lá. Ngọn lửa đỏ rực thiêu rụi mái nhà thân thương, nhưng cũng từ cái đêm nhà cháy đó, lửa yêu nước trong tim ông ngoại tôi cháy mạnh hơn bao giờ hết.
Các chú cách mạng mà gia đình ông cưu mang đã dìu dắt, dẫn ông từ thanh niên nông dân vô hàng ngũ cách mạng. Nghe cậu kể, ông ngoại tôi lúc đó mới ngoài hai mươi, gương mặt còn trẻ măng, vậy mà gan lì lắm. Ông được chọn vào lực lượng đặc công – một trong những mũi nhọn nguy hiểm và mưu trí nhất thời chiến. Đêm đêm, ông cùng đồng đội băng kênh vượt rạch, ém quân trong những bụi mắm, bụi bần, tìm đường áp sát đồn bót địch. Nhiều trận đánh đồn Sóc Xoài, Mỹ Lâm, Kênh Quản Thống,… đều có dấu giày ông ngoại tôi. Đồng đội kể rằng, trong tổ đặc công, ông luôn là người xung phong đi trước - mình ông nhỏ nhưng gan thì lớn hơn trời.
Tình yêu giữa thời hoa lửa
Giữa những tháng ngày khói lửa, ông gặp bà – cô gái cùng làng, giọng nói dễ thương, nụ cười hiền lắm. Tình yêu của ông bà không rộn ràng, không ồn ã, nhưng ấm áp như nồi cơm trưa ăn giữa đồng. Phòng cưới của ông bà nằm sâu dưới lòng đất. Nghe má tôi kể, ngày cưới chẳng có mâm cao cỗ đầy, chẳng có trầu cau chỉnh tề, chỉ có chiếc hầm bí mật, vài người đồng đội của ông, và đôi vợ chồng trẻ mắt ánh lên niềm hạnh phúc lặng lẽ.
Nhưng tình yêu thời chiến có bao giờ được tròn vẹn. Năm 1970 – 1971, trong một trận đánh ở đồn Sóc Xoài, do bị chỉ điểm, đơn vị ông bị bại lộ. Danh tính của ông cũng rơi vào tay địch. Từ đó, ông ngoại tôi buộc phải thoát ly hoàn toàn, không được trở về nhà, không được thăm vợ - dù lòng thương nhớ cháy bỏng.
Lúc ấy bà ngoại đang mang thai, chính là mẹ tôi.
Có một lần, bà liều mình tìm đến rẫy khoai ở kênh Quản Thống để gặp ông. Ai dè vừa tới nơi, biệt kích phục bắt.
- “Đi thăm chồng diệt cộng hả?” – tụi nó hằn học hỏi.
Bà run quá, chối đại:
- “Hông, tui đâu có chồng”
Bọn địch phá lên cười:
- “Không chồng mà có bầu hả? Chắc… hứng gió nam mà có bầu quá!”
Câu chuyện nghe vừa đau vừa tội. Nhưng giữa thời loạn ly, người ta thương nhau cũng phải giấu, nhớ nhau cũng phải sợ.
Niềm vui của người cha chưa kịp nắm tay con
Ngày mẹ tôi chào đời, ông ngoại hay tin mà lòng mừng khôn xiết. Nhưng vì nhiệm vụ, ông đâu được về. Mãi đến khi mẹ tôi được ba tháng, bà mới bồng con đi gặp ông nơi căn cứ. Ông nhìn đứa con gái đỏ hỏn mà đôi mắt cứ rưng rưng. Người ta nói ông đứng ngắm con không chớp mắt, đôi tay run run muốn ôm mà lại sợ làm con đau. Chỉ ít phút sau, ông lại phải đi.
Niềm vui chưa kịp đầy thì máy bay địch ập tới càn quét. Bà ngoại hốt hoảng lấy cái thau, bỏ con vô, dùng lá tràm đậy lại để địch khỏi phát hiện.
Tôi nghe tới khúc đó mà tim như nhói lên. Một đứa trẻ chỉ vài tháng tuổi -mẹ tôi - đã được giấu trong cái thau giữa làn bom đạn…
Ngày ông ngã xuống
Mùa khô tháng Ba năm 1973, trời miền Tây nắng cháy đến nứt đất. Hôm đó, ông ngoại được cấp trên cho về thăm nhà một lần cuối trước khi đi học xa. Ông hẹn gặp bà lúc 12 giờ trưa, ở khúc đường quen dẫn ra ruộng. Đi chung với ông có một đồng đội, nhưng vì nhớ vợ, nhớ con quá, ông nôn nóng nên đi trước bạn mình một đoạn. Chừng 500 mét nữa là tới điểm hẹn… vậy mà trời không thương.
Giữa đường, địch phục kích. Chúng bắn vào chân để ông không chạy được. Ông cố lết, cố bò, nhưng số trời đã định. Chúng tiến lại, nổ súng vào đầu ông. Rồi trong sự tàn nhẫn đến lạnh người, chúng chặt đầu ông, đem treo ở đồn Sóc Xoài rồi kéo qua Mỹ Lâm để răn đe cách mạng. Nghe má kể, tôi thấy nghẹn lại. Một người chồng hiền lành, một người cha mới hai mươi bảy tuổi, ra đi giữa trưa nắng chang chang, để lại vợ hiền, con nhỏ, và cả một trời đau thương.
Hơn hai mươi năm sau ngày ông mất, bà ngoại tôi cũng mất theo. Bà sống cả đời trong nỗi nhớ thương chưa trọn.
Hôm nay, tôi trở về quê bằng con đường của ông
Giờ đây, tôi đã lớn, đã thành một nhà giáo, đã trở thành Bí thư Đoàn trường ngay trên mảnh đất quê ngoại mình. Mỗi sáng đứng giữa sân trường nhìn lá cờ đỏ sao vàng tung bay, tôi lại nghĩ đến ông - đến những ngày ông băng đồng vượt sông, đánh từng đồn bót để hôm nay con cháu được đứng đây bình yên. Tôi đi theo con đường giáo dục, một con đường khác hẳn với chiến trường của ông. Nhưng tôi thấy mình đang mang trong tim lý tưởng sống mà ông đã để lại. Càng làm công tác Đoàn, càng hướng dẫn học trò sống đẹp, sống có trách nhiệm, tôi càng thấy rõ hình bóng ông trong từng việc mình làm.
Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 27 tháng 7, tôi lại tự tay đem bó hoa, thắp nén nhang lên mộ ông tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòn Đất. Khói nhang bay lên, mờ mờ như dáng ông ngày xưa. Tôi đứng đó, giữa trưa nắng gắt, mà lòng thấy mát như nước sông quê mùa nước nổi. Nhưng trên hết, tôi biết ơn. Biết ơn một người thanh niên miền Tây năm xưa dám lấy tuổi đời hai mươi mấy để đánh đổi tự do cho con cháu mai sau. Ông là người đặc công quả cảm, từng góp phần đánh sập nhiều đồn bót Mỹ, mở đường giải phóng quê hương. Là người đã để lại tuổi xuân giữa ruộng đồng Kiên Giang, để đất nước có ngày bình yên.
Người ta nói: “Anh hùng chết, nhưng tên còn mãi” nhưng với tôi, ông chưa bao giờ chết. Ông sống trong từng cơn gió thổi qua hàng tràm.Ông sống trong câu chuyện kể mỗi chiều mưa rả rích.Ông sống trong con đường mà tôi đang đi.



