NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG NĂM XƯA
Mỗi lần tìm đến anh Đặng Minh Nhàn, nguyên là lính trinh sát Sư đoàn 10 mặt trận Tây Nguyên, nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Trấn Yên, là một lần may mắn đối với tôi trong công việc. Lần này cũng thế, anh em gặp nhau sau những câu chào hỏi chân tình, đậm chất lính anh đưa tay nắm bàn tay tôi, vẫn nụ cười vui vẻ mỗi lần gặp nhau, anh hỏi luôn. - Chú lại tìm đến anh để tìm "nhân vật lịch sử" chứ gì?. Tôi thú nhận luôn, vâng, vâng ạ... anh giúp em!. Một thoáng suy nghĩ, anh trả lời luô
Muốn mau chóng tiếp cận được nhân vật cần tìm tôi đề nghị luôn: Anh liên lạc luôn đi, liệu có gặp được không?. Anh thân mật vỗ vai tôi: Chú cứ yên tâm,"Giục tốc, bất đạt". Anh cười pha chút hóm hỉnh động viên tôi: Tớ vừa gặp "Lão đặc công" này lúc sáng nay... vậy cứ đầu giờ chiều anh em mình đến nhà ông ấy là sẽ gặp thôi.
Đúng hẹn, anh Nhàn đưa chúng tôi đến tổ 3, thị trấn Cổ Phúc, huyện Trấn Yên. Trước căn nhà xây hai tầng chắc đã được xây dựng từ khá lâu, cánh cửa gỗ đang hé mở, anh Nhàn chỉ cho chúng tôi cùng đi vào và gọi to với cách gọi của những người thân quen: "Ông Nhung có nhà không đấy...". Một thoáng chờ đợi, cánh cửa mở rộng ra, một dáng người khá nhỏ, hơi gầy bước ra.
- Chào bác, chúng tôi chủ động chào hỏi chủ nhà
Nhận ra người quen ông cười cởi mở: "Nhàn hả... vào nhà đi", ông hướng về phía chúng tôi... hiểu ý ông, anh Nhàn ngắn gọn giới thiệu luôn sự có mặt hơi bất ngờ của chúng tôi tại nhà ông hôm nay.
- Nào, mời các anh vào chơi. Ông Nhung vui vẻ bắt tay từng người và mời chúng tôi vào nhà.
Bên ấm trà, sau những câu chào hỏi thân tình, anh Nhàn giới thiệu về ông Phùng Tiến Nhung, nguyên là lính đặc công... "Lính đắc công", trước mặt chúng tôi.., tôi thật sự ngỡ ngàng vì trong suy nghĩ của thế hệ chúng tôi, hình ảnh của những người chiến sỹ đặc công phải là to cao, vạm vỡ, "mình đồng, da sắt", nhưng ở vóc dáng của ông thật là trái ngược, lại khá nhỏ nhắn, nói năng nhẹ nhàng, càng làm cho chúng tôi thêm háo hức muốn được ông kể cho nghe những năm tháng quân ngũ, gắn với một thời bom đạn ác liệt mà thế hệ các ông đã trải qua, nhất là về những trận đánh và những chiến công oanh liệt của lực lượng đặc công trước mọi kể thù. Khi tôi thành thực bày tỏ về những cảm nhận của riêng mình, ông Nhung cười thật hiền, gật đầu thông cảm "Cấp trên chọn mà, mình đâu có nghĩ là mình được chọn vào đơn vị đặc biệt" và ông chậm rãi kể:
Sinh ra và lớn lên tại Quy Mông -Trấn Yên, sau nhiều lần viết đơn tình nguyện ngập ngũ nhưng phải đến tháng 3 năm 1968 tôi mới được toại nguyện được nguyện nhập ngũ lên đường vào Nam chiến đấu diệt Mỹ- Nguỵ, giải phóng miền Nam, năm ấy tôi đã bước sang tuổi 23 mà thể trạng cũng chỉ được 46 đến 47 cân thôi, đấy chính là "cơ sự" của những lần đi khám tuyển của những năm trước, lần nào cũng bị loại ngay từ vòng đầu.
Ông cười vui như đồng cảm với sự nhìn nhận ban đầu của chúng tôi về ông. Ông cởi mở chia xẻ. Ngày đầu ngập ngũ được biên chế vào Tiểu đoàn Yên Ninh 2, sau đó đơn vị chuyển sang Đồng Hỷ (Thái Nguyên), ngày ấy còn gọi là Bắc Thái, sau ba tháng huấn luyện, ông được trên cho về phép một tuần vì đã có thành tích huấn luyện tốt, đặc biệt là khoa mục bắn súng đạt danh hiệu "Chiến sỹ giỏi", chính vì có thành tích trong huấn luyện chiến sỹ mới, ông Nhung mới được Bộ Tư lệnh Đặc công tuyển chọn cùng 60 chiến sỹ trong toàn đơn vị, chuyển về tiếp tục huấn luyện chuyên sâu tại Gia Lâm (Hà Nội). Để trở thành người chiến sỹ binh chủng đặc công ông nhớ mãi lời Bác đã từng căn dặn "Đặc công là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt",thật vậy, thời gian huấn luyện với những kỹ năng rèn luyện thể lực, kỹ chiến thuật đặc biệt, đòi hỏi người chiến sỹ cũng phải có tinh thần kỷ luật, ý chí cũng phải đặc biệt thì mới có thể vượt qua được. Ngừng một lát, nhấp ngụm nhỏ chén trà đang cầm trên tay ông, những ký ức về chiến trường như đang hiện lại, ông kể tiếp: Chiến trường ngày ấy đang trong giai đoạn vô cùng ác liệt sau cuộc tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân toàn miền Nam, chiến trường đang gọi, đơn vị ông cấp tốc nhận lệnh lên đường vào Nam chiến đấu. Trong đội hình Tiểu đoàn 3 Đặc công của Bộ, cuộc hành quân bắt đầu bằng xe lửa rồi ô tô đến Quảng Bình, tạm dừng chân một ngày rồi tiếp tục được bổ sung vũ khí, trang bị của binh chủng, di chuyển đội hình áp sát sông Bến Hải và bí mật tổ chức lặng lẽ vượt sông ngay trong đêm. Đêm ấy mặt sông tối bưng, mặt trận Nam thỉnh thoảng lại vọng lên một vài loạt đạn, một vài ánh pháo sáng của địch bất chợt vọt lên vu vơ rồi im bặt, tắt ngấm. Đơn vị vượt sông an toàn, khi ấy vào khoảng đầu tháng 7 âm lịch năm 1969, ông Nhung nhớ lại.
Ổn định đội hình, hướng phía Tây Nam tiếp tục hành quân, mỗi người trong đơn vị một khẩu AK báng gấp hoặc B40, B41 cùng hai cơ số đạn, kèm theo 3 kg thuốc nổ TNT, thủ pháo, dao găm binh chủng và quân tư trang, lương thực...tóm lại trên 30kg mỗi người, đấy là chưa kể có khi còn hỗ trợ những đồng đội yếu đau, cứ thế ngày nghỉ, đêm hành quân vượt Trường Sơn sang đất bạn Lào khoảng 10 km, vượt qua những vùng đất khi ấy chỉ biết mật danh "Dốc Nguyễn Chí Thanh" rồi "Dốc Nguyễn Thị Định"... đến Binh trạm 61. Trong khí thế hành quân ra trận bỗng đột ngột được cấp trên thông tin Bác Hồ đã mất, nỗi đau thương nặng nề bao trùm toàn đơn vị, từ cán bộ đến chiến sỹ không ai bảo ai, tất cả đều mếu máo âm thầm tiếc thương Người Cha già kính yêu của dân tộc. "Biến đau thương thành hành động cách mạng" là lời thề với Người cũng là mệnh lệnh tiếp tục bí mật hành quân theo dọc sườn phía Tây Trường Sơn trên đất bạn, sau gần một tháng thì vòng lại đất Việt thuộc tỉnh Gia Lai (giáp Bình Định). Từ đây đơn vị ông được lệnh phân chia nhỏ đội hình để bổ sung lực lượng bộ đội đặc biệt tinh nhuệ về toàn chiến trường miền Nam, ông Nhung được điều động về Đại đội 1, Tiểu đoàn đặc công 405 (Quân khu 5). Địa bàn hoạt động chính của đơn vị từ Bình Định đến Quảng Ngãi, với nhiệm vụ chuyên bám, nắm, tổ chức tập kích phá hủy kho tàng, phương tiện chiến tranh tại các căn cứ, hậu cứ có tính chất chiến lược của địch ở Quy Nhơn. Sau gần hai năm hành quân vào Nam và tránh đụng độ với địch thì đến cuối tháng 2 năm 1970, trận đánh đầu tiên được ông mong đợi đã đến, đó là trận tập kích kho xăng Phú Hoà cách trung tâm Quy Nhơn khoảng hơn 1 km. Ký ức trong ông về trận đánh vẫn như còn nguyên vẹn, ông sôi nổi kể lại: Đây là khu tập kết xăng dầu của Mỹ - Nguỵ để cung cấp cho khu vực Tây Nguyên, lực lượng địch ở đây khoảng một đại đội, được bố trí canh phòng cẩn mật, sau nhiều ngày theo dõi quy luật hoạt động, đêm đến luồn sâu vào căn cứ nắm chắc cách bố phòng của địch, tiếp đến lên sa bàn, xây dựng phương án tác chiến, phân công lực lượng tập kích, Đại đội 1 của tiểu đoàn được phân công tiêu diệt mục tiêu. Ông Nhung cho biết thêm: "Gọi là đại đội nhưng quân số đơn vị thường xuyên không quá 20 người" do đó mũi (là tổ hoặc nhóm theo cách gọi của đơn vị đăc công) của ông gồm 8 người, do một đồng chí người Tam Quan - Bình Định là mũi trưởng, được giao nhiệm vụ tấn công vào Khu Kỹ thuật của căn cứ. Vào đêm cuối tháng 2 năm 1970, sau khi các mũi đã áp sát mục tiêu, đúng 24 giờ 10 (thời điểm địch đổi gác theo quy luật) mũi chính diện dùng B40, B41 tiêu diệt các cụm hoả lưc và khu chỉ huy căn cứ địch, cũng là lúc các tổ viên trong mũi dùng thủ pháo, AK lần lượt tiêu diệt các mục tiêu với 6 quả thủ pháo giành cho 1 dãy nhà ở của bọn lính kỹ thuật, tiếng thủ pháo nổ ùng ục, tiếng AK bắn găm chắc nịch như bị chìm đi sau những tiếng nổ long trời của bộc phá, tiếng nổ liên tiếp của 6 bồn xăng lớn do các mũi khác của đơn vị đảm nhiệm, ánh sáng rực trời từ hàng trăm tấn xăng của địch cháy dữ dội, những cột lửa bốc cao hàng 70 - 80 m. Cũng là lúc nhiệm vụ của đại đội đã hoàn thành, lực lượng địch bảo vệ kho xăng đa số đã bị tiêu diệt hoặc còn choáng váng trước đòn tập kích bất ngờ, các mũi tiến công rút về một hang đá giáp biển an toàn. Trận đánh diễn ra chỉ trong vòng chưa đầy 5 phút.
- Trận đánh lớn thế mà chỉ diễn ra chưa đầy 5 phút thôi sao? Tôi thành thực hỏi lại.
- Đúng thế đấy, cách đánh của đặc công là như vậy đấy, phải hợp đồng thật chính xác, càng chuẩn bị kỹ bao nhiêu thì trận đánh diễn ra nhanh chóng, thuận lợi bấy nhiêu... mỗi tổ viên từ lúc dùng thủ pháo đánh mục tiêu đầu tiên, đến khi tiêu diệt hết các mục tiêu được phân công, chỉ được diễn ra không quá 5 phút. Ông Nhung khẳng định.
Trận đánh đó Đại đội 1đã thiêu huỷ toàn bộ kho xăng, loại khỏi vòng chiến đấu hơn một trăm tên địch và nhiều phương tiện vận tải xăng dầu của địch, riêng mũi chiến đấu của ông đã góp phần diệt hơn hai mươi tên. Kho xăng cháy dữ dội, kèm tiếng nổ suốt cả đêm hôm ấy đến tám, chín giờ ngày hôm sau mới tạm lắng. Chiến công của đơn vị đã được Bộ Tư lệnh QK5 điện xuống khen ngợi, còn riêng với ông Nhung đây là trận đánh đầu tiên nhưng cũng là niềm vinh dự lớn, ông được kết nạp Đảng ngay sau trận đánh.
Trận thứ hai đánh vào khu kho đạn hỗn hợp của Mỹ ở Đèo Son phía Tây Quy Nhơn, đây là cụm kho của địch thời gian trước đặt tại Cù Mông đã bị Đại đội 2 của tiểu đoàn tổ chức đánh hai lần, nhưng lần thì bị lộ khi trinh sát, lần thì đánh không hết mục tiêu phải rút, sau lần ấy địch cũng hoảng sợ phải rút về xây dựng kiên cố tại Đèo Son. Cụm kho bom, đạn Đèo Son là nơi lưu trữ khối lượng lớn bom đạn, có tính chất chiến lược của địch nên được bố trí phòng bị rất cẩn mật, có đến chín, mười lớp hàng rào thép gai bùng nhùng cùng các loại mìm vướng nổ, đè nổ.. bao quanh để chống xâm nhập, các kho đều được đắp ụ đất nổi che chắn, lực lượng bảo vệ của địch cấp tiểu đoàn, có cả chó béc giê cùng lính Mỹ liên tục tuần tra. Xác định đây là kho bom đạn lớn, rất quan trọng của địch, Quân khu giao Tiểu đoàn Đặc công 405 xây dựng quyết tâm phá huỷ toàn bộ cụm kho Đèo Son. Sau nhiều đêm bí mật tiếp cận nhưng các mũi trinh sát của ta vẫn chưa luồn sâu được vào bên trong căn cứ để nắm chắc vị trí, quy mô, chủng loại của từng cụm kho, chỉ vì một lý do rất bất ngờ đó là lũ chó hoang sống lang thang quanh căn cứ, nó còn nguy hiểm hơn cả lũ chó béc giê của địch, chỉ cần một động tĩnh nhỏ là lũ chó hoang đua nhau sủa "đồng ca", kéo theo cả lũ chó Mỹ cũng tham gia "lĩnh xướng", thế là trinh sát ta lại đành nằm bẹp chờ yên tĩnh rồi phải rút. Quyết vượt qua hệ thống hàng rào bằng mọi cách, may sao ngày hôm sau qua ống nhòm ông Nhung phát hiện trong đám lùm cây lúp xúp đó là miệng cống thoát nước từ khu kho ra biển, miệng cống có đường kính khoảng 0,7 m, ngay đêm đó mũi trinh sát của ông quyết định đột nhập sâu vào căn cứ theo lối này, tuy rất ô nhiễm nhưng an toàn và bí mật. Sau khi đã hoàn thành vẽ sơ đồ từng vị trí địch, hạ quyết tâm chiến đấu. Đến đêm ngày 29.6.1971, toàn Tiểu đoàn được lệnh đồng loạt tấn công căn cứ địch, mũi của ông do đồng chí Hà quê ở Hà Tĩnh là mũi trưởng được phân công đánh vào khu kho đạn pháo và đạn bộ binh (mỗi kho rộng 8m, dài 20m, riêng khu kho đạn rộng 600m dài 800m). Cùng với trang bị thường xuyên, mỗi người trong mũi còn mang theo ba khối chất nổ C4 (chất nổ dẻo của Mỹ, sức công phá cực mạnh) có kíp hẹn giờ. Đúng với phương án tác chiến, các tổ viên bí mật tiếp cận từng dãy nhà kho đạn, đặt các khối thuốc nổ vào các vị trí hiểm yếu nhất, bấm hẹn thời gian nổ sau 20 phút, tất cả phải rút ra ngoài khu vực kho để bảo toàn an toàn lực lượng, thời gian lúc này cũng là lúc chờ đợi hồi hộp nhất đó là tiếng nổ từ trong khu kho đạn địch, tiếng nổ sẽ là hiệu lệnh tấn công đồng loạt của cả tiểu đoàn vào căn cứ kho Đèo Son, các mũi tiến công nhanh chóng tiêu diệt các mục tiêu được phân công, trận tập kích diễn ra rất nhanh và cũng nhanh chóng kết thúc nhưng những tiếng nổ thứ cấp rền vang, liên tục từ kho đạn pháo địch, kèm những đám cháy khổng lồ vẫn liên tục kéo dài suốt hai ngày, hai đêm. Theo xác minh của Quân khu 5, trong trận đánh này Tiểu đoàn Đặc công 405 đã phá hủy 41.200 tấn bom đạn và thuốc nổ; 61 xe chở đầy đạn, 2 xe thiết giáp, 40 tấn xăng đặc, 150 tấn hàng quân sự các loại, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Thắng lợi của trận đánh có ý nghĩa rất quan trọng, khiến căn cứ của địch phải dừng hoạt động 6 tháng, đây là trận đánh điển hình về vận dụng tốt nguyên tắc, cách đánh của đặc công, đó là “lấy ít đánh nhiều, giữ được bí mật, tạo thế bất ngờ, đánh liên tục vào một căn cứ, phá hủy triệt để, đạt hiệu suất cao”.
Trận thứ ba vào khoảng tháng 4 năm 1972, chậm rãi ông Nhung nhớ lại: Khi ấy tôi được chỉ định là b trưởng (Trung đội trưởng) trinh sát của Tiểu đoàn, sau khi trực tiếp trinh sát căn cứ Sở chỉ huy Sư đoàn Mãnh Hổ (Nam Triều Tiên) tại Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đây là căn cứ do Mỹ xây dựng rất kiên cố, có hệ thống hầm ngầm phức tạp, rất khó cho lực lượng đặc công đánh theo lối cũ "luồn sâu, đánh hiểm", từ tình hình thực tế trinh sát báo cáo, Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định dùng Đại đội 4 pháo phản lực ĐKB của Tiểu đoàn tập kích Sở chỉ huy Sư đoàn Mãnh Hổ. Đây là trận đánh tuy không lớn, chỉ bằng 6 quả đạn ĐKB bắn chính xác, cùng sức công phá mạnh của mỗi quả đạn đã gây tổn thất nghiêm trọng sinh lực cùng phương tiện chiến tranh của địch trong căn cứ, làm tê liệt cơ quan đầu não của sư đoàn ác ôn khét tiếng, có nhiều nợ máu với đồng bào ta ở Bình Định, buộc chúng phải co cụm, không dám nống ra càn quét, phục kích lực lượng của ta như thường lệ, nhưng vui nhất là được chứng kiếm nhân dân trong vùng hả hê trước đòn tấn công hoả lực của Quân Giải phóng đã đánh dập đầu lũ giặc Pắc Chun Hy.
Trong lời kể của người chiến sỹ đặc công năm xưa, ông luôn tự hào về những đồng đội "đầu trần, chân đất" đã cùng nhau vượt qua bao gian khổ, hy sinh mất mát để có những trận đánh vẻ vang như: Tập kích khu công binh Mỹ; tập kích kho Đèo Son, sân bay Gò Quánh, kho đạn Miếu Lở; căn cứ của sư đoàn Mãnh Hổ (Nam Triều Tiên); kho xăng Phú Hòa… Qua những trận đánh đã diệt và làm bị thương hàng nghìn tên địch, phá huỷ hàng chục nghìn tấn bom, đạn, vũ khí trang bị, bắn cháy hàng trăm xe quân sự và thiêu huỷ hàng triệu lít xăng của địch. Những đóng góp của Tiểu đoàn Đặc công 405 đã góp phần quan trọng và có ý nghĩa to lớn giải phóng Bình Định trong Chiến dịch Mùa xuân 1975 và giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Với những thành tích đã đạt được, Tiểu đoàn 405 Đặc công Quân khu 5 đã vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Đơn vị Thành đồng quyết thắng (năm 1971). Đặc biệt, Đại đội 1(thuộc Tiểu đoàn) nơi ông Phùng Tiến Nhung đã từng nhiều năm gắn bó được trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1970).
Sau ngày thống nhất đất nước, ông Nhung tiếp tục ở lại tham gia truy quét lực lượng phản động Furô tại Đắk Lắk đến cuối năm 1978 được lệnh ra Bắc, biên chế về Tiểu đoàn 30 pháo binh, Sư đoàn 355 tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Hoàng Liên Sơn, cho đến tháng 3 năm 1983 ông được nghỉ chế độ bệnh binh.
Chia tay người chiến sỹ đặc công năm xưa, người Cựu chiến binh 54 năm tuổi Đảng, tròn 15 năm trong quân ngũ, tham gia chiến đấu hàng chục trận lớn nhỏ suốt từ chiến trường miền Nam đến biên giới phía Bắc Tổ quốc, rồi tham gia công tác cựu chiến binh tại địa phương, chúng tôi không khỏi khâm phục người chiến binh dáng người nhỏ bé nhưng có những thành tích chiến đấu xuất sắc, gắn liền với những chiến công oanh liệt của lực lượng Đặc công Quân khu 5 trong những năm chống Mỹ và hôm nay, người chiến sỹ đặc công năm ấy vẫn vẹn nguyên bản chất truyền thống Bộ đội Cụ Hồ, vẫn khiêm nhường khi kể lại những trận chiến đấu của mình cùng bao người đồng đội, với ông thật bình dị như bao câu chuyện của hàng vạn người con quê hương Yên Bái đã lên đường cầm súng đánh giặc vì Tổ quốc thân yêu./.



