NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG VÀ HÀNH TRÌNH VƯỢT TRƯỜNG SƠN VÀO CHIẾN KHU Đ
Ông Vũ Đức Ninh 72 tuổi Quê Hưng Yên Cựu chiến binh - Cán bộ "đi B"

Năm 1972, khi đất nước đang bước vào giai đoạn cam go nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở một vùng quê thuộc tỉnh Hưng Yên có một chàng trai vừa tròn 18 tuổi. Như hàng vạn thanh niên miền Bắc cùng thời, ông quyết định xếp lại sách vở, gác lại những dự định của tuổi trẻ để lên đường nhập ngũ. Người thanh niên ấy là Vũ Đức Ninh, người mà hơn nửa thế kỷ sau, ở tuổi 72, vẫn còn nhớ như in từng chặng đường mình đã đi qua
Ông được đưa vào huấn luyện trong binh chủng đặc công, thuộc biên chế Sư đoàn 305, một trong những đơn vị đặc công tinh nhuệ của Quân đội nhân dân Việt Nam thời bấy giờ. Đặc công là binh chủng đòi hỏi kỷ luật thép, thể lực bền bỉ và một bản lĩnh thép để có thể luồn sâu vào lòng địch mà không bị phát hiện. Với một chàng trai mới 18 tuổi, đó là một thử thách không nhỏ, nhưng cũng là bước ngoặt định hình nên người lính mà ông sẽ trở thành
Chặng đường từ miền Bắc vào tới Chiến khu Đ không phải là một cuộc hành quân đơn giản. Có những đoạn đường được di chuyển bằng tàu, bằng ô tô, nhưng phần lớn hành trình, đặc biệt là đoạn từ dãy Trường Sơn cho tới khi vào đến Chiến khu Đ, ông Ninh và đồng đội phải hành quân bộ, băng qua những cánh rừng già, dưới làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù
Đó là những ngày tháng gian khổ tột cùng: đói, rét, sốt rét rừng, bom đạn rình rập trên từng cây số. Nhưng cũng chính trong hành trình ấy, tinh thần đồng đội, sự sẻ chia giữa những người lính trẻ đã trở thành động lực để họ vượt qua tất cả
Trong suốt quá trình hành quân và chiến đấu, ông Ninh được các chiến sĩ thế hệ đi trước, những người đã dày dạn kinh nghiệm trận mạc, tận tình dìu dắt. Họ không chỉ truyền lại kỹ năng luồn sâu vào căn cứ địch mà còn rèn giũa cho ông bản lĩnh và nghiệp vụ của một người lính đặc công thực thụ. Đây là truyền thống "lấy chiến trường làm trường học" của quân đội ta trong những năm tháng ấy: người đi trước dạy người đi sau, kinh nghiệm được truyền nối qua từng thế hệ chiến sĩ
Ông Ninh nhớ lại, những ngày đầu tiên đối mặt với kẻ thù trong các đêm trinh sát là những trải nghiệm không thể nào quên. Nhiệm vụ trinh sát đặc công đòi hỏi người lính phải áp sát mục tiêu ở cự ly cực gần — gần đến mức có thể nghe rõ tiếng lính địch trò chuyện với nhau trên vọng gác. Trong bóng tối, chỉ một tiếng động nhỏ, một hơi thở gấp cũng có thể làm lộ cả đội hình.
Ông không giấu diếm rằng những đêm đầu ấy, ông đã rất hồi hộp, căng thẳng. Đó là cảm giác rất con người, bất kỳ ai lần đầu đối mặt với ranh giới sinh tử cũng đều trải qua. Nhưng theo thời gian, càng trải qua nhiều trận đánh, nỗi sợ hãi ban đầu ấy dần dần lùi lại phía sau, nhường chỗ cho sự gan góc, bình tĩnh và tinh thần xung kích của một người lính đặc công luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ. Đó chính là quá trình "thép đã tôi", từ một thanh niên còn bỡ ngỡ trở thành một chiến sĩ đặc công thực thụ, người có thể giữ được cái đầu lạnh giữa lằn ranh sống chết
Nếu phải chọn ra một dấu mốc chói sáng nhất trong những năm tháng chiến đấu của mình, ông Vũ Đức Ninh sẽ nhắc đến trận đánh đêm 20 tháng 10 năm 1974, tại chốt vườn bưởi Tân Uyên
Đây là một trận đánh mà đến tận bây giờ, khi kể lại, ông vẫn không giấu được niềm tự hào. Đội hình chiến đấu của ông khi ấy chỉ vỏn vẹn 11 người. Đối diện với họ là một lô cốt kiên cố của địch, với quân số áp đảo, khoảng 100 tên. Xét về tương quan lực lượng, đó là một trận đánh mà phần thắng, theo lẽ thường, khó có thể nghiêng về phía những người lính đặc công ít ỏi
Nhưng chính ở đây, nghệ thuật đánh đặc công, thứ vũ khí đặc biệt của quân đội ta, đã được phát huy đến mức tối đa. Với chiến thuật "xuất quỷ nhập thần": bí mật tiếp cận, đánh nhanh, đánh hiểm, dùng ít quân tinh nhuệ để áp đảo quân số đông của địch, đội hình 11 người của ông Ninh đã tiêu diệt gọn toàn bộ lô cốt với khoảng 100 tên địch bên trong. Đây là một chiến công vang dội, minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của lối đánh đặc công Việt Nam, lấy ít địch nhiều, lấy tinh nhuệ và bất ngờ để bù đắp cho sự chênh lệch quân số
Sau trận đánh lịch sử ấy, ông Ninh cùng đồng đội đã được lãnh đạo cấp trên biểu dương, khen thưởng. Đó không chỉ là vinh dự cá nhân, mà còn là niềm tự hào chung của cả đơn vị, minh chứng cho tinh thần "dùng ít thắng nhiều" đã trở thành thương hiệu của bộ đội đặc công Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến
Có một chi tiết trong câu chuyện của ông Ninh khiến người nghe không khỏi lặng người: trước mỗi trận đánh, ông và đồng đội luôn tổ chức lễ truy điệu cho chính mình và cho nhau
Đây là một nghi thức đặc biệt của những người lính đặc công, họ hiểu rõ hơn ai hết rằng nhiệm vụ luồn sâu, đánh hiểm vào lòng địch đồng nghĩa với việc đối mặt trực tiếp với cái chết. Vì vậy, trước khi bước vào trận, họ làm lễ truy điệu như một cách chuẩn bị tâm thế, một lời từ biệt phòng khi không có ngày trở về, và cũng là một lời thề quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ dù phải hy sinh
Ông Ninh kể, có những đồng chí đã hy sinh anh dũng ngay trong lòng địch, không bao giờ trở về nữa. Nhưng cũng có những đồng chí thật kỳ diệu, đã được tổ chức lễ truy điệu tới ba, bốn lần mà vẫn may mắn sống sót trở về sau mỗi trận đánh. Sự sống và cái chết, trong những năm tháng ấy, mong manh đến mức người lính phải học cách đối diện với nó một cách bình thản, coi đó như một phần tất yếu của con đường mình đã chọn
Câu chuyện của ông Vũ Đức Ninh không phải là câu chuyện đơn lẻ. Ông là một trong hàng vạn cán bộ, chiến sĩ miền Bắc đã "đi B" vào Nam chiến đấu trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Ngày nay, tại Trung tâm Lưu trữ lịch sử thành phố Đồng Nai, vẫn còn lưu giữ hàng trăm bộ hồ sơ của những cán bộ đi B như ông, trong đó có 191 bộ hồ sơ vẫn chưa tìm được chủ nhân hay thân nhân để trao trả
Những hồ sơ ấy, với lý lịch cá nhân, giấy tờ ghi lại quá trình công tác, chiến đấu, cùng những bức thư tay, trang nhật ký đã úa màu thời gian, là chứng tích quý giá về một thế hệ đã cống hiến trọn vẹn tuổi trẻ của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cùng thời với ông Ninh, còn có ông Phùng Đắc Lang (76 tuổi, quê Đồng Nai), một cán bộ đi B khác, người đã được trao trả lại hồ sơ vào năm 2014, và khi cầm trên tay những trang giấy đã mờ nhòe, ông như được sống lại tuổi đôi mươi đầy nhiệt huyết của chính mình
Hôm nay, khi ông Vũ Đức Ninh kể lại câu chuyện của mình cho tuổi trẻ thành phố Đồng Nai, đó không đơn thuần là việc ôn lại ký ức cá nhân. Đó là cách để một thế hệ đã đi qua chiến tranh trao truyền lại cho thế hệ hôm nay hiểu về cái giá của hòa bình, hiểu rằng độc lập, tự do mà chúng ta đang thụ hưởng hôm nay được đánh đổi bằng máu, bằng tuổi trẻ, bằng những đêm trinh sát nín thở giữa lằn ranh sinh tử, và bằng cả những lễ truy điệu sống trước mỗi trận đánh của những người lính như ông
Từ một chàng trai 18 tuổi ở Hưng Yên xếp bút nghiên lên đường, qua bao gian khổ vượt Trường Sơn, qua những đêm trinh sát nghẹt thở, đến chiến công vang dội tại chốt vườn bưởi Tân Uyên, hành trình của ông Vũ Đức Ninh là một lát cắt chân thực của "thời hoa lửa": không tô vẽ, không cường điệu, mà là những gì một người lính đặc công đã thực sự trải qua, thực sự sống, và may mắn còn được kể lại cho thế hệ hôm nay
Bài viết được viết dựa trên bài báo "Đồng Nai: Xác minh thông tin để trao trả kỷ vật lịch sử về gia đình" của tác giả Lê Xuân vào ngày 24/09/2026
Nguồn:https://www.vietnamplus.vn/dong-nai-xac-minh-thong-tin-de-trao-tra-ky-vat-lich-su-ve-gia-dinh-post1138194.vnp



