NGƯỜI LÍNH ĐI QUA LỬA ĐẠN TRẦN NGỌC MÃ
Tác phẩm: TRẦN NGỌC MÃ - NGƯỜI LÍNH ĐI QUA LỬA ĐẠN.

BÀI DỰ THI: CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA
Tác phẩm: NGƯỜI LÍNH ĐI QUA LỬA ĐẠN
Người thực hiện: Đồng Đăng Khoa
Đơn vị:Lớp 1B Trường Tiểu học Lương Châu – Phường Bá Xuyên- Tỉnh Thái Nguyên.
Nhân chứng lịch sử: TRẦN NGỌC MÃ
Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, có những giá trị dẫu lặng im nhưng vẫn rực cháy như ngọn lửa âm ỉ dưới tro tàn. Tôi đã may mắn được ngồi bên ông vào một buổi chiều yên ả, nghe giọng nói trầm đục kể về những năm tháng "máu và hoa". Với tôi, ông không chỉ là ông ngoại, một người ông đáng kính, một người lính già, mà là một pho sử sống, một nhân chứng đã dành trọn thanh xuân để đi qua những tọa độ lửa khốc liệt nhất của dân tộc.
Ký ức của ông bắt đầu bằng những cung đường bụi đỏ tại chiến trường Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Giọng ông đanh thép khi nhắc đến chiến dịch "Lam Sơn 719" – nơi mà kẻ thù muốn dùng sức mạnh hỏa lực tối tân để đè bẹp ý chí con người. "Lúc đó khốc liệt lắm cháu ạ, bầu trời không bao giờ xanh, chỉ có màu xám của khói súng," ông khẽ vuốt ve vết sẹo cũ trên cánh tay. Giữa thử thách ngặt nghèo ấy, ông và đồng đội đã chứng minh một chân lý: Khi người lính có niềm tin vào chính nghĩa, không một loại vũ khí nào có thể khuất phục được họ.
Rời Nam Lào, bước chân người lính lại hành quân về phía Quảng Trị - nơi mà mùa hè năm 1972 đã trở thành một khúc tráng ca bất tử. 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ, ông đã sống trong cái "túi bom" mà mỗi mét vuông đất đều thấm đẫm máu của đồng đội. Ông nghẹn ngào kể về những người lính tuổi đời mới mười tám, đôi mươi, môi còn vương hơi ấm quê nhà đã vĩnh viễn nằm lại dưới dòng sông Thạch Hãn đỏ quạch máu tươi. Ở nơi đó, người ta không còn đo thời gian bằng giờ bằng phút, mà đo bằng những đợt tấn công bám trụ, nơi "gan vàng đã thực sự chọi thắng sắt thép".
Hành trình đi qua lửa đạn ấy cuối cùng cũng chạm tới ngày khải hoàn. Mùa xuân năm 1975, ông có mặt trong đoàn quân thần tốc tiến về Sài Gòn. Giây phút 11 giờ 30 phút ngày 30/4, khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, ông đã bật khóc như một đứa trẻ. Đó là giọt nước mắt hạnh phúc của một dân tộc sau 21 năm trường kỳ kháng chiến. Nhưng hòa bình chưa được bao lâu, tiếng súng lại vang lên nơi biên giới phía Bắc. Một lần nữa, người lính ấy lại gác lại tình riêng, lên đường đến với mặt trận Vị Xuyên khốc liệt. Lời thề "Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử" đã trở thành lý tưởng sống, để ông cùng đồng đội giữ vững từng tấc đất biên cương trước những "lò vôi thế kỷ".
Khi tôi hỏi về những kỉ niệm vật chất còn sót lại, ông chậm rãi mở chiếc hộp gỗ cũ kỹ. Bên trong là những tấm Huân chương, Huy chương lấp lánh – những "bằng chứng thép" cho một đời tận hiến. Đó là tấm Huân chương Chiến sĩ vẻ vang, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, hạng Nhì cùng những tấm huy hiệu cao quý khác. Với ông, mỗi tấm huy chương không phải là sự phô trương thành tích, mà là hương hồn của đồng đội, là mồ hôi và máu xương của một thời hoa lửa. Những tấm huy chương ấy đã nằm im lìm trong hộp bấy lâu, nhưng hôm nay, chúng dường như đang rực cháy để kể cho tôi nghe về giá trị của hai chữ "Tự do".
Cuộc trò chuyện khép lại khi bóng chiều đổ dài, nhưng ngọn lửa trong mắt người lính già vẫn âm vang mãi. Thông qua tác phẩm "Người lính đi qua lửa đạn", tôi muốn gửi gắm một thông điệp đến thế hệ trẻ: Hòa bình không phải là điều tự nhiên mà có, đó là món quà được đánh đổi bằng máu và nước mắt. Chúng ta phải có trách nhiệm lưu giữ và viết tiếp những trang sử hào hùng ấy bằng lòng biết ơn sâu sắc nhất. Cảm ơn ông, người đã dạy cho cháu biết yêu thêm hình hài Tổ quốc qua những câu chuyện đời mình!
Người viết bài
Đồng Đăng Khoa



