Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, ông và đồng đội trào nước mắt, vỡ òa trong hạnh phúc. Lần lượt, từng khoảnh khắc qua từng trận đánh, từng con người, từng địa điểm lần lượt như tuôn ra qua hồi ức của mình. Tướng Thổ kể, 8 giờ sáng ngày 20/4/1975, ông đưa Tiểu đoàn 1 vượt sông Vàm Cỏ Tây (đoạn Thanh Phú Long sang Nhựt Ninh) để kịp đánh vào Chi khu Tân Trụ - vị trí quan trọng phía Nam Sài Gòn. Nhận được lệnh, ông không khỏi lo ngại vì khúc sông này rộng, lại có đến 13 tàu chiến của địch cách nơi bộ đội vượt sông chỉ 2km. Do đó, các chiến sĩ phải có sự trợ giúp từ địa phương. Chỉ trong 30 phút, cán bộ địa phương huy động được đến 20 ghe máy loại lớn (mỗi chiếc chở được 40 người với đầy đủ trang bị) cùng gần 400 người, trong đó có cả thiếu nhi làm công tác binh vận vô hiệu hóa thuyền chiến của địch. Nhờ vậy, Tiểu đoàn 1 cùng các đại đội trực thuộc (khoảng 600 người) vượt sông thuận lợi. Lại nhớ, ngày 28/4, trên đường về Sài Gòn, Sở chỉ huy Trung đoàn ở nhờ nhà một má ở Cần Giuộc. Bà má âu yếm nhìn những người lính giải phóng như nhìn mấy đứa con ở xa mới về. “Nhà có mấy con ngỗng, má định làm thịt cho chúng tôi bồi dưỡng, nhưng mấy chị cản, cho là ăn ngỗng… xui nên cả đàn gà hơn 30 con, má dành hết cho anh em lấy thêm sức chiến đấu”, ông hồi tưởng. “Tám” Thổ của má! Kể về những bà má ở khu 8 nuôi bộ đội những năm kháng chiến, ông Thổ nghẹn ngào như đang kể về mẹ ruột của mình. Ông thao thao bất tuyệt về má Bảy hay tiếp tế cho bộ đội ở Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối năm 1968, má bị buộc chuyển vào sống trong vùng địch. Dù má cũng không đủ ăn nhưng trước khi đi, má chôn một lu lương thực gồm mì gói, đường và cá muối cho bộ đội. Người mà ông nhớ nhất là má Tư Bún ở Tiền Giang, người nhận ông làm con nuôi và đặt cho ông “thứ Tám”, cái danh xưng thân thương đặc trưng Nam bộ. Bởi, con của má là liệt sĩ Tám Phước đã hy sinh. Thế nên, ông còn được gọi là anh “Tám Thổ”. |