Người Lính Giữ Đá Núi Vị Xuyên
Mỗi lần nhắc đến hai tiếng “Vị Xuyên”, giọng ông Phạm Quang Thịnh lại chùng xuống. Đó là nơi ông đã gửi lại cả tuổi thanh xuân cùng biết bao đồng đội thân thiết trong những năm tháng bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Năm 1982, khi vừa bước sang tuổi 21, chàng trai quê Thanh Hóa tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào đơn vị bộ binh làm nhiệm vụ tại mặt trận Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang — nơi được coi là chiến trường ác liệt nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc.
Ông kể rằng cuộc sống nơi chiến hào vô cùng gian khổ. Bộ đội phải đào hầm trong đá núi, ban ngày tránh pháo, ban đêm cơ động vận chuyển lương thực, tải thương và giữ chốt. Có những ngày pháo địch bắn liên tục từ sáng tới tối, cả quả đồi chìm trong khói lửa.
“Khi đó chúng tôi quen với tiếng pháo đến mức nghe tiếng nổ là biết pháo rơi gần hay xa,” ông Thịnh nhớ lại.
Kỷ niệm khiến ông không thể nào quên là vào tháng 7 năm 1984, trong một trận chiến giành giật cao điểm 772. Đơn vị của ông nhận lệnh tăng cường lên chốt giữa đêm tối. Đường lên núi dốc đứng, trơn trượt vì mưa rừng, mỗi người mang trên vai hàng chục ký đạn và lương thực.
Khi gần tới trận địa, pháo địch bất ngờ dội xuống dữ dội. Đất đá tung mù mịt. Người đồng đội đi ngay phía trước ông là chiến sĩ Lê Văn Cường đã bị thương nặng ở chân. Dù bản thân cũng bị sức ép pháo làm choáng váng, ông Thịnh vẫn cùng đồng đội cáng anh Cường xuống tuyến sau cứu chữa.
Ông nghẹn ngào kể:
“Cường nắm chặt tay tôi rồi nói: ‘Nếu tôi không qua khỏi thì nhắn mẹ tôi là tôi đã chiến đấu đến cùng…’. Nhưng chưa kịp đưa xuống quân y thì cậu ấy hy sinh.”
Sau lần ấy, ông càng thấm thía sự khốc liệt của chiến tranh. Có những người lính sáng còn ngồi ăn cơm cùng nhau, chiều đã nằm lại nơi khe núi. Nhiều đồng đội đến nay vẫn chưa tìm thấy hài cốt.
Điều đặc biệt ở những người lính Vị Xuyên, theo ông Thịnh, chính là tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường. Dù thiếu thốn đủ bề, họ vẫn động viên nhau bằng những câu chuyện quê nhà, bằng những lá thư gia đình đã nhàu nát vì mưa rừng.
Năm 1986, ông hoàn thành nhiệm vụ trở về quê hương với thương tật ở cánh tay trái. Sau chiến tranh, ông tiếp tục lao động, xây dựng gia đình và tham gia công tác hội cựu chiến binh tại địa phương.
Giờ đây, mỗi dịp tháng Bảy hay ngày lễ lớn của đất nước, ông lại mặc bộ quân phục cũ đã bạc màu, lặng lẽ thắp hương tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh nơi biên cương Hà Giang.
Ông thường nhắn nhủ thế hệ trẻ:
“Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu của biết bao người lính. Các cháu phải biết yêu nước, sống có trách nhiệm và không bao giờ quên những người đã ngã xuống vì Tổ quốc.”



