Người lính luôn giữ phần cơm cháy cuối nồi
Ngày còn ở quê, tôi rất thích ăn cơm cháy.
Nhà nghèo, nồi cơm gang nấu bằng bếp củi lúc nào dưới đáy cũng có một lớp cháy vàng giòn. Mỗi lần ăn xong, anh em trong nhà thường tranh nhau cạy phần ấy.
Mẹ tôi hay cười:
“Để em út ăn.”
Nhưng nhiều hôm bà vẫn lén để dành cho tôi một miếng.
Vào quân đội rồi, tôi vẫn nhớ vị cơm cháy ấy.
Đời lính ngày ấy ăn uống đơn sơ lắm. Gạo không nhiều, bữa no bữa đói. Nhưng hễ anh nuôi nấu khéo để dưới đáy nồi có lớp cháy mỏng là cả tiểu đội vui hẳn lên.
Ai cũng thích.
Có hôm chưa ăn xong cơm đã nghe người hỏi:
“Hôm nay có cháy không?”
Cả nhà bếp cười ầm.
Tôi thường là người ở lại cuối cùng sau bữa ăn để cạy phần cơm cháy dính đáy nồi. Không phải tham ăn.
Mà vì mỗi lần ăn miếng cơm cháy giòn tan ấy, tôi lại nhớ nhà da diết.
Nhớ căn bếp cũ ám khói.
Nhớ tiếng mẹ nhóm lửa mỗi sáng.
Nhớ những chiều mưa cả nhà ngồi quanh mâm cơm nhỏ.
Quân ngũ khiến con người ta trưởng thành nhanh.
Nhưng cũng khiến những điều bình thường nhất trở nên quý giá vô cùng.
Tôi nhớ một buổi tối mùa đông, cả đơn vị hành quân về muộn. Anh em đói lả người. Nhà bếp vét nồi chia cho mỗi người một ít cơm cháy.
Tôi cầm miếng cơm nóng giòn trong tay mà thấy ngon hơn bất cứ món nào trên đời.
Một đồng đội ngồi cạnh vừa ăn vừa xuýt xoa:
“Sau này về nhà chắc tao nhớ cơm cháy bộ đội.”
Tôi cười:
“Lúc đó tha hồ ăn.”
Ai ngờ sau này thật sự nhớ.
Có những thứ khi còn sống trong nó thì thấy bình thường. Đến lúc rời xa mới thấy quý.
Tôi từng chứng kiến nhiều đêm đồng đội chia nhau từng miếng cháy cuối nồi. Có người nhường nhau vì thấy bạn chưa no. Có người bẻ đôi rồi cười:
“Ăn chung cho vui.”
Giữa những năm tháng thiếu thốn, người lính thương nhau bằng những điều rất nhỏ như vậy.
Ngày xuất ngũ, mẹ tôi lại nấu cơm bằng nồi gang cũ.
Bữa đầu tiên ở nhà, bà cạy cho tôi miếng cơm cháy rồi cười:
“Đi bộ đội chắc nhớ món này lắm.”
Tôi cắn miếng cơm mà tự nhiên nghẹn cổ.
Vì tôi biết có những người từng ăn cơm cháy cùng mình năm ấy giờ đã mỗi người một nơi.
Có người còn chẳng bao giờ gặp lại nữa.
Tôi là Phùng Văn Nghị, sinh năm 1954, nhập ngũ năm 1973.
Đến tận bây giờ, mỗi lần nghe tiếng cạy cơm cháy dưới đáy nồi, tôi lại nhớ doanh trại cũ, nhớ tiếng cười của đồng đội và nhớ tuổi hai mươi nghèo khó mà ấm áp của một thời áo lính.



