Người lính năm xưa - Ông ngoại của em hôm nay

Ông ngoại em tên là Nguyễn Văn Biên, quê ở xã Phúc Sơn, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Quang Trung, tỉnh Bắc Ninh). Em yêu ông ngoại lắm! Mỗi lần về quê, em lại mong được sà vào lòng ông, nghe ông nói chuyện và nhìn nụ cười hiền hậu của ông.
Trong nhà ông có một chiếc hòm gỗ cũ. Bên trong, ông cất giữ hai tấm giấy tờ, kỷ vật mà em nghĩ là vô cùng quý giá. Chúng đã theo ông qua năm tháng, lưu giữ một phần câu chuyện về người lính năm xưa.
Tấm thẻ thứ nhất – dấu tích của những năm tháng chiến trường
Đó là Giấy chứng nhận Bệnh binh. Trên tấm thẻ đã cũ là bức ảnh ông khi còn trẻ, mặc quân phục bộ đội, trông thật nghiêm nghị và oai phong. Em nhìn mãi bức ảnh ấy, cố hình dung ông của ngày xưa – một người lính trẻ rời quê hương để làm nhiệm vụ với Tổ quốc.

Giấy chứng nhận Bệnh binh của ông ngoại
CÂU CHUYỆN CỦA NGƯỜI LÍNH
Trên giấy ghi: Nguyễn Văn Biên; nguyên quán Phúc Sơn, Tân Yên, Hà Bắc; tỷ lệ mất sức lao động 71%, được hưởng chế độ từ tháng 02 năm 1987. Em chưa hiểu hết những dòng chữ ấy nên hỏi ông: “Ông ơi, 71% là gì ạ?”. Ông xoa đầu em rồi nhẹ nhàng giải thích: “Là ông đã để lại sức khỏe của mình ở chiến trường để cho đất nước được hòa bình”.
Từ lời kể của ông, em biết rằng cuối tháng 12 năm 1972, ông lên đường nhập ngũ, vào đơn vị C1–D30–E60, Sư đoàn Đặc công 305. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong những năm 1973 và 1974, ông được cử đi học cán bộ, từ tiểu đội rồi lên trung đội.
Năm 1975, đơn vị ông được tổ chức để chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Tháng 4 năm ấy, ông cùng đồng đội nhận nhiệm vụ tiếp quản thành phố. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bắt đầu làm nhiệm vụ quản quân. Sau đó, đơn vị tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ an ninh cho thành phố; ông tham gia công tác kiểm soát quân sự. Trong quá trình phục vụ, ông được phong quân hàm Thiếu úy rồi Trung úy.
Đến năm 1987, vì sức khỏe suy yếu, ông ra quân theo chế độ bệnh binh. Khi nghe ông kể, em dần hiểu rằng phía sau con số 71% trên tấm thẻ cũ là những năm tháng cống hiến và những mất mát mà người lính đã trải qua. Tấm thẻ không chỉ ghi lại một chế độ, mà còn nhắc em nhớ đến cái giá của cuộc sống hòa bình hôm nay.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Tấm kỷ niệm chương – niềm tự hào của ông
Tấm kỷ vật thứ hai là Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam, do Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tặng ông ngày 5 tháng 3 năm 2003. Ông rất tự hào khi được đeo huy hiệu có hình Bác Hồ trên ngực. Với em, tấm kỷ niệm chương ấy như một lời nhắc về quãng đời ông đã dành cho đất nước.

Kỷ niệm chương Cựu chiến binh Việt Nam của ông
NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA, ÔNG NGOẠI HÔM NAY
Bây giờ, ông ngoại em đã trở về với cuộc sống bình dị của một người nông dân hiền lành. Trong bức ảnh em chụp cùng ông ở vườn nhà, ông đang ôm em thật gần. Phía sau hai ông cháu là đàn vịt trắng; nắng nhẹ rơi trên mái tóc bạc của ông. Ông cười rất tươi. Khoảnh khắc ấy giản dị thôi, nhưng mỗi lần ngắm lại, em đều thấy lòng mình ấm áp.

Em bên ông ngoại trong khu vườn nhà
Ông chẳng bao giờ kể công. Ông chỉ dặn em phải chăm ngoan, học giỏi và biết yêu thương mọi người. Có lẽ với ông, những điều ấy quan trọng hơn mọi lời ngợi ca. Nhưng mỗi lần nhìn lại tấm thẻ cũ có hình ông trong bộ quân phục, em càng thêm yêu quý màu áo bộ đội và càng kính trọng người ông của mình.
Em sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Mỗi lần về quê ngoại, em lại muốn sà vào lòng ông, được nghe ông kể chuyện và ở bên ông lâu thêm một chút. Em mong ông luôn mạnh khỏe để em còn được nắm tay ông, nghe ông dặn dò và lưu giữ thêm thật nhiều kỷ niệm đẹp.
Em tự hứa sẽ cố gắng học tập, sống tử tế và biết yêu thương mọi người để không phụ lòng ông. Em tự hào vì ông ngoại em từng là người lính đi qua thời hoa lửa, góp phần đem lại cuộc sống bình yên hôm nay. Em muốn nói với ông rằng: “Con yêu ông ngoại nhiều lắm. Con luôn tự hào về ông!”


