Người lính trẻ trên chiến trường biên giới Tây Nam
Bác Lê Dao nhập ngũ năm 1978, khi vừa tròn mười bảy tuổi, trở thành chiến sĩ của Tiểu đoàn 317, Trung đoàn 54, chiến đấu tại chiến trường biên giới Tây Nam Việt Nam – Campuchia. Trong những năm tháng ác liệt chống tập đoàn diệt chủng Khmer Đỏ, bác là người lính trực tiếp bám chốt, giữ đất, bảo vệ biên cương Tổ quốc. Ký ức về những đêm phục kích, những đồng đội ngã xuống và niềm tin vào ngày hòa bình vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí bác. Thời hoa lửa ấy đã rèn giũa bác từ một chàng trai thôn quê
Tôi gặp bác Lê Dao trong một buổi chiều yên ả ở thôn Hạ Vũ 1. Mái tóc đã bạc nhiều, nhưng ánh mắt bác vẫn sáng, trầm tĩnh như người từng trải qua mưa bom bão đạn. Khi nhắc đến quãng đời quân ngũ, bác chậm rãi nói:
“Đời lính của tôi không dài, nhưng đủ để nhớ suốt cả đời.”
Năm 1978, bác nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Khi ấy, bác được biên chế vào Tiểu đoàn 317, Trung đoàn 54, thuộc lực lượng chủ lực làm nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ biên giới Tây Nam. Với cấp bậc Hạ sĩ, chức vụ chiến sĩ bộ binh, bác cùng đồng đội hành quân sang chiến trường tỉnh Svay Rieng, Campuchia, tham gia cuộc kháng chiến chống lại tập đoàn diệt chủng Khmer Đỏ, bảo vệ nhân dân hai nước Việt Nam – Campuchia.
Bác kể, những ngày đầu ra trận, ai cũng trẻ, cũng sợ, nhưng không ai lùi bước.
“Đêm đầu tiên phục kích bên bìa rừng, tôi nghe rõ tiếng tim mình đập. Không phải vì lạnh, mà vì lần đầu đối diện sinh tử.”
Những năm 1979–1981 là quãng thời gian ác liệt nhất. Đơn vị của bác thường xuyên bám chốt, thiếu thốn lương thực, nước uống, sốt rét rừng hoành hành. Có những ngày, cả tiểu đội chỉ có nắm cơm vắt và ít muối rừng. Nhưng điều khiến bác nhớ nhất không phải gian khổ, mà là tình đồng đội.
“Có lần tôi sốt mê man, thằng bạn cùng quê cõng tôi đi cả chục cây số trong rừng để về trạm quân y. Nó bảo: ‘Mày mà ngã, tao không về làng được.’”
Trong một trận đánh bảo vệ tuyến đường chiến lược năm 1980, bác cùng tổ trinh sát phát hiện sớm toán địch xâm nhập, kịp thời báo về đơn vị, góp phần giữ vững trận địa. Với thành tích đó, bác được tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba khi xuất ngũ.
Năm 1982, bác hoàn thành nghĩa vụ quân sự, trở về quê hương. Trước khi rời đơn vị, bác được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam – phần thưởng tinh thần lớn nhất đời lính.
Bác cười hiền: “Chiến tranh qua rồi, nhưng những năm tháng ấy đã dạy tôi cách sống cho tử tế, cho trọn nghĩa với người đã nằm lại.”



