Cựu chiến binh

Người lính trở về mang theo vết thương chiến tranh và trọn một đời cống hiến

Sinh ngày 10/9/1935, tại vùng đất nay là thôn Hóa Quỳ 2, xã Hóa Quỳ (trước đây là thôn Đồng Tâm, xã Hóa Quỳ cũ), tuổi trẻ của ông lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Khi Tổ quốc cần, chàng thanh niên mới mười tám tuổi đã không ngần ngại gác lại cuộc sống riêng.

Thanh Hóa17/08/2026Đoàn xã Hóa Quỳ (Xã Hóa Quỳ)6 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người lính trở về mang theo vết thương chiến tranh và trọn một đời cống hiến

Người lính trở về mang theo vết thương chiến tranh và trọn một đời cống hiến

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Đoàn xã Hóa Quỳ xin được kể lại câu chuyện về ông Lê Đình Thực, người cựu chiến binh của quê hương Hóa Quỳ - một cuộc đời bình dị nhưng thấm đẫm tinh thần yêu nước và trách nhiệm với Nhân dân.

Ở tuổi ngoài chín mươi, mái tóc đã bạc trắng, bước chân không còn nhanh nhẹn như xưa, nhưng ánh mắt của người lính năm nào vẫn ánh lên sự hiền từ và cương nghị.

Ông đón chúng tôi bằng nụ cười mộc mạc. Trên chiếc bàn là những tấm Huân chương, Huy chương đã ngả màu theo năm tháng, được ông cẩn thận cất giữ như những kỷ vật thiêng liêng của một thời tuổi trẻ.

Khi câu chuyện bắt đầu, ông chậm rãi lần giở từng ký ức. Có những mốc thời gian, những tên đơn vị, địa danh hay tên đồng đội, ông phải dừng lại rất lâu mới nhớ ra. Có những đoạn ký ức, ông chỉ khẽ lắc đầu rồi cười hiền: "Già rồi các cháu ạ... nhiều chuyện ngày xưa giờ quên mất rồi."

Sinh ngày 10/9/1935, tại vùng đất nay là thôn Hóa Quỳ 2, xã Hóa Quỳ (trước đây là thôn Đồng Tâm, xã Hóa Quỳ cũ), tuổi trẻ của ông lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Khi Tổ quốc cần, chàng thanh niên mới mười tám tuổi đã không ngần ngại gác lại cuộc sống riêng.

Tháng 2 năm 1954, ông lên đường nhập ngũ, được biên chế về Tổng cục Hậu cần - Binh trạm Hòa Bình. Những năm 1954 - 1957, ông cùng đơn vị đóng quân tại Thái Nguyên - một địa bàn chiến lược của căn cứ địa Việt Bắc. Đây là giai đoạn tuy Hiệp định Giơ-ne-vơ đã được ký kết, nhưng tình hình an ninh ở nhiều khu vực miền Bắc vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp. Các đơn vị quân đội vừa làm nhiệm vụ củng cố lực lượng, bảo vệ căn cứ, truy quét các toán phỉ, giữ vững an ninh vùng căn cứ cách mạng, vừa tham gia huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và xây dựng hậu phương vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước.

Là một người lính trẻ, ông luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Những ngày hành quân băng rừng, vượt suối, canh gác giữa núi rừng Việt Bắc, hay những đêm thức trắng bảo vệ kho tàng, tuyến vận chuyển và doanh trại đã tôi luyện trong ông bản lĩnh kiên cường của người lính Cụ Hồ. Chính quãng thời gian ấy đã trở thành nền tảng để sau này, khi Tổ quốc một lần nữa cần đến, ông tiếp tục xung phong trở lại chiến trường Quảng Bình - Quảng Trị, mang theo tinh thần sẵn sàng chiến đấu và cống hiến không quản hy sinh.

Cuối năm 1957, ông phục viên trở về quê hương. Nhưng người lính năm nào không chọn cuộc sống bình yên cho riêng mình. Ngày 25/12/1959, ông vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó vừa là niềm tự hào, vừa là lời hứa mà ông đã dành cả cuộc đời để thực hiện bằng hành động.

 Từ năm 1958 đến năm 1964, ông lần lượt đảm nhiệm cương vị Xã đội trưởng, rồi Trưởng Công an xã Yên Cát, góp phần giữ gìn an ninh, xây dựng chính quyền cơ sở trong những ngày quê hương bắt đầu hàn gắn sau chiến tranh.

Đến năm 1964, ông được điều động giữ chức Trưởng Công an xã Hóa Quỳ. Chỉ ít tháng sau, vào tháng 12 năm 1964, ông tiếp tục nhận nhiệm vụ mới tại Huyện đội Như Xuân, phụ trách công tác động viên, trực tiếp vận động thanh niên lên đường nhập ngũ, bổ sung lực lượng cho chiến trường miền Nam.

Nhưng với ông, khi đất nước còn chiến tranh thì người lính chưa thể đứng ngoài cuộc.

Đầu năm 1967, ông một lần nữa tình nguyện trở lại chiến trường. Ông được giao làm Chính trị viên Đại đội 8 (C8 - F308), chiến đấu và phục vụ tại chiến trường Quảng Bình - Quảng Trị, nơi được xem là tuyến lửa ác liệt nhất của cả nước lúc bấy giờ.

Cuối năm 1967, đầu năm 1968, đơn vị của ông được phối thuộc chiến đấu tại Điểm cao 33 - Truông Bồn, sau đó tham gia trận đánh tại Đồi 182, Hướng Hóa (Quảng Trị).

Trong trận chiến khốc liệt ấy, giữa mưa bom, bão đạn, ông đã bị thương.

Vết thương chiến tranh trở thành ký ức không bao giờ phai mờ. Đó là dấu tích của những ngày tuổi trẻ sẵn sàng đánh đổi máu xương để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Sau thời gian điều trị và tiếp tục công tác, đến năm 1970, ông phục viên trở về quê hương.

Người lính năm xưa lại tiếp tục hành trình cống hiến bằng một vai trò khác.

Tháng 4 năm 1972, tại Đại hội Đảng bộ xã Hóa Quỳ, ông được Đảng bộ và Nhân dân tín nhiệm bầu giữ chức Phó Bí thư Đảng bộ xã. Cuối năm 1972, ông được giao trọng trách Chủ tịch UBND xã Hóa Quỳ, cùng tập thể lãnh đạo địa phương khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống Nhân dân và xây dựng quê hương.

Đến năm 1983, ông thôi giữ chức vụ tại xã để trở về cơ sở, làm Bí thư Chi bộ thôn Đồng Quan. Dù ở cương vị nào, ông vẫn luôn giữ tác phong giản dị, gần dân, tận tụy với công việc và được bà con tin yêu, quý trọng.

Những cống hiến của ông được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, cùng nhiều Huân, Huy chương Kháng chiến và Huy hiệu Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với người lính ấy không phải là những tấm huân chương lấp lánh trên ngực áo.

Đó là được chứng kiến đất nước thống nhất.

Được nhìn thấy những con đường quê hôm nay đông vui, những mái trường vang tiếng trẻ thơ, những cánh đồng xanh màu no ấm trên chính mảnh đất mà một thời ông và biết bao đồng đội đã quyết tâm gìn giữ bằng cả tuổi xuân.

Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ.

Nhiều đồng đội của ông đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường Quảng Trị, Quảng Bình hay trên những điểm cao khốc liệt. Những người còn trở về đều mang trong mình một phần ký ức không thể gọi thành tên.

Họ không kể nhiều về những chiến công.

Họ chỉ lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến và coi sự bình yên của quê hương hôm nay là niềm hạnh phúc lớn nhất.

Nhân dịp 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, câu chuyện về ông Lê Đình Thực không chỉ là lời tri ân đối với một người lính, một thương binh, một cán bộ tận tụy, mà còn là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay về giá trị của hòa bình.

Để mỗi chúng ta biết trân trọng hơn cuộc sống đang có.

Biết ơn những người đã hy sinh tuổi trẻ, sức khỏe và cả máu xương cho độc lập, tự do của dân tộc.

Và tiếp tục sống có trách nhiệm, góp sức xây dựng quê hương Hóa Quỳ ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước.

"Có những vết thương theo người lính suốt cuộc đời. Nhưng cũng chính từ những vết thương ấy, chúng ta hiểu rằng hòa bình hôm nay chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có."

---ĐOÀN XÃ HÓA QUỲ---

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn