Cựu chiến binh

Người lính và lá cờ: Câu chuyện của một thời hoa lửa

Người lính và lá cờ: Câu chuyện của một thời hoa lửa

Ninh Bình14/05/2026Đỗ Thị Vân Anh (DHKL18A3HN)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, có những khoảnh khắc chỉ diễn ra trong vài phút ngắn ngủi nhưng lại trở thành dấu mốc vĩnh cửu của dân tộc và là biểu tượng bất tử của lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Một trong những khoảnh khắc thiêng liêng ấy diễn ra vào giữa trưa ngày tháng Tư lịch sử( ngày 30 tháng 4 năm 1975) , khi khói lửa chiến tranh còn chưa kịp tan, một người lính đã mang theo lá cờ tiến vào trái tim của Sài Gòn. Khoảnh khắc lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, hàng triệu trái tim người Việt như vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Gắn liền với thời khắc thiêng liêng ấy là hình ảnh Bùi Quang Thận – người lính đã trực tiếp cắm lá cờ, khép lại hơn hai mươi năm chiến tranh khốc liệt, mở ra kỷ nguyên hòa bình, độc lập và thống nhất cho dân tộc. Từ giây phút ấy, câu chuyện về người lính và lá cờ không chỉ là một dấu mốc lịch sử, mà còn là biểu tượng tiêu biểu cho tinh thần kiên cường, bất khuất , nối liền quá khứ hào hùng với hiện tại và tương lai của đất nước.

Sinh năm 1948 tại xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (nay là xã Đông Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên), Bùi Quang Thận trưởng thành trong bối cảnh đất nước bị chia cắt và chiến tranh kéo dài. Tuổi trẻ của ông không gắn liền với những ước mơ cá nhân giản dị, mà hòa chung vào lý tưởng lớn lao của dân tộc: đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước. Chính hoàn cảnh lịch sử khắc nghiệt đã hun đúc nên ở ông – cũng như cả một thế hệ – ý chí kiên cường, lòng dũng cảm và niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi của chính nghĩa. Khi Tổ quốc cần, ông không ngần ngại lên đường nhập ngũ( năm 1966), mang theo trong tim lý tưởng cao đẹp của tuổi trẻ: chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc- “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” ( bài thơ “ Tây Tiến” của Quang Dũng) . Nét tinh thần của thế hệ Bùi Quang Thận – những con người sẵn sàng gác lại tuổi trẻ, lý tưởng riêng để cống hiến trọn vẹn cho Tổ quốc. Họ bước vào chiến tranh không phải vì vinh quang cá nhân, mà vì một niềm tin lớn lao: độc lập dân tộc.

Từ năm 1966 đến năm 1975, ông trưởng thành từ pháo thủ đến đại đội trưởng Đại đội 8, Trung đoàn tăng thiết giáp 202. Những năm tháng trong quân ngũ là quãng thời gian rèn luyện gian khổ nhưng cũng đầy tự hào. Là một người lính xe tăng, Bùi Quang Thận không chỉ đối mặt với hiểm nguy nơi chiến trường mà còn phải vượt qua những thử thách khắc nghiệt về thể chất và tinh thần. Mỗi lần hành quân là một lần đối diện với cái chết, nhưng cũng là một bước tiến gần hơn tới ngày đất nước thống nhất. Chính trong môi trường ấy, bản lĩnh và ý chí của người lính được tôi luyện, trở thành nền tảng cho những hành động phi thường sau này.

Đỉnh cao trong cuộc đời binh nghiệp của Bùi Quang Thận chính là khi ông tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh – chiến dịch cuối cùng, mang tính quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là chiến dịch hội tụ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, với mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Trong chiến dịch này, ông giữ vai trò Đại đội trưởng Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn tăng thiết giáp 203, Quân đoàn 2- đơn vị đảm nhiệm đánh chiếm dinh Độc Lập. Ông chỉ huy xe tăng 843 – một trong những mũi tiến công quan trọng vào trung tâm Sài Gòn.

Những giờ phút cuối cùng của chiến dịch là cuộc chạy đua với thời gian và lịch sử. Đoàn xe tăng tiến nhanh về phía trung tâm thành phố, bất chấp mọi hiểm nguy. Tiếng động cơ gầm rú hòa cùng tiếng súng, tiếng pháo, tạo nên một bức tranh vừa dữ dội vừa hào hùng. Trong không khí căng thẳng ấy, mỗi người lính đều hiểu rằng mình đang đứng trước một thời khắc lịch sử – thời khắc mà mọi nỗ lực, hy sinh suốt bao năm qua sẽ được đền đáp.

Sau này, khi tìm hiểu tư liệu để viết một số cuốn sách về bộ đội xe tăng (như “Bút ký lính tăng: Hành trình đến Dinh Độc Lập”, “Bão thép” (bộ tiểu thuyết 4 tập về Binh chủng Tăng-Thiết giáp), “Một chọi mười: Trận đấu tăng bi tráng”...), đại tá- nhà văn Nguyễn Khắc Nguyệt có dịp hiểu rõ hơn về chuyện cắm cờ chiến thắng tại Dinh Độc Lập. Ông cho biết: trong chiến dịch Hồ Chí Minh, để giành thắng lợi nhanh nhất với tổn thất ít nhất, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã tổ chức năm cánh quân đồng loạt tiến công vào Sài Gòn theo 5 hướng khác nhau. Với mục tiêu cụ thể được phân công cho từng hướng, Quân đoàn 4 thuộc cánh quân phía đông có nhiệm vụ đánh chiếm Dinh Độc Lập. Khi đó, một sĩ quan tham mưu của Quân đoàn 2 (cũng thuộc cánh quân phía đông) đã phát biểu: “Trong trường hợp Quân đoàn 2 vào trước thì có được đánh chiếm Dinh Độc Lập không?”. Nhận thấy đây là ý kiến hợp lý, lãnh đạo Bộ Tư lệnh Chiến dịch kết luận: Kế hoạch là như vậy, nhưng đơn vị nào vào trước thì đánh chiếm Dinh Độc Lập trước.

Trải qua thực tế cuộc chiến, lực lượng Quân đoàn 2 trở thành mũi tiến công có cơ hội đánh chiếm Dinh Độc Lập. Sau khi dùng một phần lực lượng đánh “bóc vỏ”, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức một binh đoàn thọc sâu với lực lượng nòng cốt là Lữ đoàn xe tăng 203 nhằm hướng Sài Gòn tiến đánh. Sau khi chọc thủng một loạt phòng tuyến của địch, sáng 28/4/1975, Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An đã trao cờ “quyết chiến, quyết thắng” cho Lữ đoàn xe tăng 203 để cắm tại Dinh Độc Lập. Trước nhiệm vụ vinh quang này, Ban chỉ huy Lữ đoàn xe tăng 203 lựa chọn đại đội 3 (tiểu đoàn 1) là đơn vị sẽ tiến vào Dinh Độc Lập để thực hiện việc cắm cờ. Sáng ngày 30/4/1975, khi tiểu đoàn 1 của Lữ đoàn xe tăng 203 tiến đến cầu Sài Gòn, địch chống trả rất quyết liệt. Chúng thậm chí còn có ý định đánh sập cầu Sài Gòn để cản bước tiến của ta. Trước tình thế khẩn trương, khi nhô ra khỏi xe tăng để chỉ huy đơn vị, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Ngô Quang Nhỡ trúng đạn hy sinh. Đại đội xe tăng 3 đảm nhận mũi chủ công, trong trận kịch chiến với địch cũng bị thiệt hại đáng kể về quân số. Trước tình hình đó, cấp chỉ huy đại đội 4 gồm đại đội trưởng Bùi Quang Thận, chính trị viên Vũ Đăng Toàn, đại đội phó phụ trách kỹ thuật Lê Văn Phượng đã nhanh chóng hội ý rồi cho đơn vị vượt qua cầu sài Gòn, tiến thẳng vào nội đô.

Ông Ngô Sĩ Nguyên- cựu pháo thủ số 1 xe tăng 390, xe tăng đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 cho biết: trong quá trình tới Dinh Độc Lập, xe tăng 843 (do đại đội trưởng Bùi Quang Thận là trưởng xe) và xe tăng 390 (do chính trị viên Vũ Đăng Toàn là trưởng xe, đại đội phó Lê Văn Phượng ngồi cùng xe) là hai xe dẫn đầu. Tới gần Dinh Độc Lập, các thành viên kíp xe tăng 390 thấy xe tăng 843 đang mắc ở cổng phụ bên trái Dinh. Trước tình thế khẩn trương, khi được đồng đội hỏi ý kiến, trưởng xe 390 Vũ Đăng Toàn đã hạ lệnh: “Cho xe tiến thẳng vào”. Lái xe Nguyễn Văn Tập lập tức tăng tốc để xe tăng 390 lao tới húc văng hai cánh cửa cổng chính Dinh Độc Lập, rồi băng qua thảm cỏ để tới trước Dinh. Lúc này, xe tăng 843 vẫn mắc ở cổng phụ.

Không chần chừ, Bùi Quang Thận nhanh chóng rời khỏi xe và mang theo lá cờ. Theo lời kể của Vũ Đăng Toàn chính trị viên đại đội, chỉ huy xe tăng 390: “ Tôi thấy anh Bùi Quang Thận (đại đội trưởng đại đội 4, tiểu đoàn 1, lữ đoàn 203, trưởng xe 843) cầm cờ chạy tới nơi. Biết đồng đội vào Dinh làm nhiệm vụ cắm cờ, tôi vội xách khẩu AK (bên hông vẫn đeo súng ngắn) chạy theo để yểm hộ” .

Vào trong dinh, Bùi Quang Thận đề nghị Vũ Đăng Toàn ở lại "canh chừng" các thành viên nội các Việt Nam Cộng hòa và chờ cấp chỉ huy đến, còn ông thực hiện cho được nhiệm vụ của mình là cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập. Đại tá Chiêm, chỉ huy trưởng lực lượng phòng vệ phủ tổng thống, được lệnh dẫn Bùi Quang Thận cùng hai người đi theo hỗ trợ là Nguyễn Hữu Thái – cựu chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn và nhà báo Huỳnh Văn Tòng lên cắm cờ trên nóc dinh.

Bùi Quang Thận kể: “ Khi lên đến nơi, tôi hạ cờ ngụy xuống. Nhưng do cờ được buộc chắc chắn nên phải cắn bằng răng, sau đó treo cờ giải phóng vào. Kéo cờ mình lên, tôi lại hạ xuống, đưa tay xem đồng hồ. Tôi thận trọng ghi: 11 giờ 30 ngày 30-4 và ký tên Thận lên góc lá cờ Tổ quốc. Song, kéo cờ lên lại” .

Đó là một hành động diễn ra trong vài phút ngắn ngủi nhưng mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Khi lá cờ được cắm lên và tung bay trong gió, nó không chỉ là dấu hiệu của chiến thắng quân sự, mà còn là biểu tượng của ý chí, khát vọng và niềm tin của cả dân tộc Việt Nam.

Đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt cho biết: “ Sau khi kéo cờ xong, đại đội trưởng Bùi Quang Thận cuộn lá cờ “ba sọc” lại, cầm theo và đi xuống sân Dinh Độc Lập. Lúc này, bộ đội ta đã vào Dinh rất đông, nhiều lá cờ chiến thắng được phất lên và cắm ở một vài nơi. Thấy Bùi Quang Thận, một số phóng viên đã tới chụp ảnh, trong khi tay anh vẫn cầm theo chiến lợi phẩm là lá cờ “ba sọc” được cuộn tròn” .

Trong câu chuyện lịch sử ấy, lá cờ không chỉ dừng lại ở một chi tiết thực, mà đã trở thành một hình tượng mang giá trị biểu tượng sâu sắc về lịch sử, tư tưởng và nghệ thuật. Trước hết, đó là biểu tượng của chiến thắng và chủ quyền dân tộc. Khi lá cờ tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, nó đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chính quyền Sài Gòn và khẳng định sự toàn thắng của cách mạng Việt Nam. Lá cờ lúc này chính là “tuyên ngôn bằng hình ảnh” về độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Không chỉ vậy, lá cờ còn là kết tinh của máu, nước mắt và ý chí của cả một dân tộc. Đằng sau khoảnh khắc ấy là hàng triệu người đã ngã xuống, là những năm tháng chiến tranh gian khổ kéo dài. Vì thế, mỗi lần nhắc đến lá cờ, ta không chỉ nhớ đến chiến thắng, mà còn nhớ đến cái giá của hòa bình – một cái giá vô cùng lớn lao và thiêng liêng.

Ở một tầng ý nghĩa sâu hơn, lá cờ còn là biểu tượng của lý tưởng và niềm tin. Hành động cắm cờ của Bùi Quang Thận không đơn thuần là một nhiệm vụ quân sự, mà còn là sự thể hiện niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi của cách mạng. Lá cờ vì thế trở thành biểu tượng của tinh thần, của ý chí – không chỉ của một con người mà của cả dân tộc Việt Nam trong suốt chặng đường đấu tranh giành độc lập.

Đặc biệt, khoảnh khắc lá cờ tung bay còn mang ý nghĩa như một điểm chuyển giao lịch sử. Nó khép lại quá khứ chiến tranh đầy mất mát, đồng thời mở ra một tương lai hòa bình, thống nhất và phát triển. Chính vì vậy, lá cờ không chỉ thuộc về quá khứ, mà còn hướng tới tương lai – nơi những giá trị mà thế hệ đi trước đã hy sinh để giành được sẽ tiếp tục được gìn giữ và phát huy.

Xét dưới góc độ nghệ thuật, hình ảnh lá cờ còn mang tính biểu tượng cao. Từ một vật thể cụ thể, nó đã được nâng lên thành hình tượng đại diện cho cả một thời đại, một lý tưởng và một dân tộc. Đây chính là điểm giao thoa giữa lịch sử và nghệ thuật: nơi hiện thực được nâng tầm thành giá trị tinh thần mang tính khái quát.

Khoảnh khắc ấy đã đi vào lịch sử như một dấu mốc không thể phai mờ. Nhưng điều đáng quý hơn cả là phía sau hành động ấy là một con người với những phẩm chất cao đẹp. Bùi Quang Thận không coi mình là anh hùng, không tìm kiếm sự vinh danh. Đối với ông, đó chỉ đơn giản là nhiệm vụ của một người lính. Chính sự khiêm nhường và tinh thần trách nhiệm ấy đã làm nên giá trị đích thực của người chiến sĩ cách mạng.

Sau ngày đất nước thống nhất, cuộc sống bước sang một trang mới, nhưng những ký ức về chiến tranh vẫn còn đó. Bùi Quang Thận tiếp tục phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, mang quân hàm Đại tá, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời bình. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông vẫn giữ lối sống giản dị, gần gũi, đúng với phẩm chất của người lính Cụ Hồ. Cuộc đời của ông là minh chứng cho tinh thần cống hiến bền bỉ, không chỉ trong chiến tranh mà cả trong hòa bình.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang hội nhập và phát triển, thế hệ trẻ Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Câu chuyện về Bùi Quang Thận và lá cờ trên nóc Dinh Độc Lập chính là nguồn cảm hứng để mỗi người trẻ tự soi lại mình, xác định rõ trách nhiệm đối với Tổ quốc. Không còn tiếng súng, không còn chiến tranh, nhưng “ngọn lửa thời hoa lửa” vẫn cần được gìn giữ và phát huy trong những hành động cụ thể: học tập, lao động, sáng tạo và cống hiến.

Mỗi thế hệ có một sứ mệnh riêng, nhưng điểm chung là đều hướng tới sự phát triển và phồn vinh của đất nước. Nếu thế hệ đi trước đã dùng máu xương để giành lại độc lập, thì thế hệ hôm nay cần dùng trí tuệ và bản lĩnh để xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, văn minh. Đó chính là cách thiết thực nhất để tri ân những hy sinh của cha ông, đồng thời tiếp nối truyền thống vẻ vang của dân tộc.

Có thể nói, hình ảnh Bùi Quang Thận cắm lá cờ trên nóc Dinh Độc Lập sẽ mãi là biểu tượng bất tử trong lịch sử Việt Nam. Đó không chỉ là dấu mốc kết thúc chiến tranh, mà còn là lời nhắc nhở về giá trị của hòa bình, về sức mạnh của lòng yêu nước và về trách nhiệm của mỗi người dân đối với Tổ quốc. Câu chuyện ấy sẽ còn được kể lại, được truyền đi qua nhiều thế hệ, như một ngọn lửa không bao giờ tắt – ngọn lửa của “thời hoa lửa”, soi sáng con đường đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người lính và lá cờ: Câu chuyện của một thời hoa lửa | Câu chuyện thời hoa lửa