Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người lính xe tăng ở cầu Vĩnh Bình

Người lính xe tăng ở cầu Vĩnh Bình

Đồng Tháp18/08/2026Xã Tân Châu (Đoàn xã Tân Châu)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hơn 9 giờ sáng 30.4.1975, khi đội hình quân giải phóng đang vượt cầu Vĩnh Bình để mở cánh cửa phía Bắc tiến vào Sài Gòn, Đại đội trưởng Hoàng Thọ Mạc ngã xuống. Chưa đầy hai giờ sau, chiến tranh kết thúc. Người lính xe tăng ấy đã không kịp nhìn thấy ngày toàn thắng, nhưng vẫn cùng đồng đội đi tiếp trên chính chiếc xe thiết giáp ông từng chỉ huy.

“Anh tham gia trận này xong là anh về”.

Đó là lời hứa Hoàng Thọ Mạc nói với vợ trước khi lên đường vào trận đánh cuối cùng.

Không ai trong gia đình nghĩ đó sẽ là lời hẹn cuối cùng.

Tối 29.4.1975, từ Bình Dương, người đại đội trưởng xe tăng viết lá thư gửi vợ. Trong thư, ông kể rằng mình và đồng đội đã tiến rất gần Sài Gòn, bộ đội đi đến đâu là giải phóng đến đó, hai bên đường người dân cầm cờ, hoa vẫy chào. Một bức thư đầy niềm tin của người lính đang ở rất gần ngày chiến thắng.

Nhưng sáng hôm sau, tại cầu Vĩnh Bình, Hoàng Thọ Mạc đã hy sinh.

Người con duy nhất của một liệt sĩ

Hoàng Thọ Mạc sinh năm 1947 trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Xuân Vinh, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc xã Xuân Hưng, tỉnh Ninh Bình.

Cha ông là liệt sĩ trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Hoàng Thọ Mạc là người con trai duy nhất.

Năm 1965, khi vừa tròn 18 tuổi, thay vì ở lại quê nhà, chàng trai ấy tình nguyện tham gia lực lượng thanh niên xung phong, phục vụ chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn. Một năm sau, ông được chuyển sang bộ đội chủ lực; đến tháng 6.1967 được chọn đi học Trường Sĩ quan Lục quân.

Cuộc đời quân ngũ đưa Hoàng Thọ Mạc từ người lính bộ binh đến người chỉ huy xe tăng.

Cuối năm 1971, ông được điều động về Trung đoàn Bộ binh cơ giới 202, tiền thân của Lữ đoàn Tăng thiết giáp 202 ngày nay. Tháng 3.1972, ông cùng đơn vị vào chiến trường Quảng Trị, trực tiếp tham gia nhiều trận đánh tại Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị.

Những năm tháng ấy rèn nên một người chỉ huy mà đồng đội nhớ về với sự tận tụy, gan dạ và khả năng làm chủ vũ khí, trang bị.

Năm 1973, đơn vị ra Hà Tĩnh rồi Thanh Hóa củng cố và tham gia đội hình Binh đoàn Quyết Thắng. Hoàng Thọ Mạc được phong quân hàm Thiếu úy, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 66.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, ông tranh thủ những ngày phép ít ỏi để về quê xây dựng gia đình với cô gái cùng quê Tô Thị Khuy.

Một tuần phép và một lời hứa

Đám cưới của Hoàng Thọ Mạc và Tô Thị Khuy diễn ra giản dị.

Ông chỉ có một tuần phép.

Là lính xe tăng, ông thường xuyên xa nhà. Có khi về đến quê chỉ nghỉ được một, hai buổi rồi lại khoác ba lô lên đường. Những lần hiếm hoi trở về, ông kể cho vợ nghe chuyện đơn vị, chuyện chiến trường.

Bà Khuy hiểu rằng người chồng mình lấy là một người lính.

Và cũng hiểu rằng chiến tranh không cho họ nhiều thời gian để sống cuộc đời của một gia đình bình thường.

Tháng 3.1975, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân bước vào giai đoạn quyết định, đơn vị Hoàng Thọ Mạc nhận lệnh cơ động gấp vào Nam.

Gần 1.800 km đường quân sự được vượt qua trong một cuộc cơ động thần tốc để đơn vị có mặt tại Đồng Xoài, kịp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trước trận đánh cuối cùng, Hoàng Thọ Mạc còn ghé về thăm nhà.

Ông nói với vợ:

“Anh tham gia trận này xong là anh về”.

Có lẽ chính ông cũng tin vào lời hẹn ấy.

Bởi lúc đó, Sài Gòn đã ở rất gần.

Lá thư cuối cùng

Tối 29.4.1975, Hoàng Thọ Mạc viết thư cho vợ.

Dòng đầu tiên ghi:

“Bình Dương, ngày 29.4.1975”.

Ông kể rằng anh và đồng đội đã vào gần tới Sài Gòn. Bộ đội đi tới đâu, giải phóng tới đó. Hai bên đường, người dân cầm cờ, hoa vẫy chào.

Đọc lá thư ấy, người ở quê nhà có thể hình dung người lính của mình đang ở rất gần ngày trở về.

Nhưng chỉ vài giờ sau, Hoàng Thọ Mạc bước vào trận đánh cuối cùng.

Và bức thư ấy trở thành kỷ vật cuối cùng của ông gửi lại cho vợ.

Sau ngày giải phóng, khi nghe tin đồn chồng hy sinh, bà Khuy vẫn không tin. Mãi đến vài tháng sau, giấy báo tử được gửi về, bà mới biết lời hứa “đánh trận này xong là anh về” sẽ không bao giờ thành hiện thực.

Cầu Vĩnh Bình – cánh cửa cuối cùng

Sáng 30.4.1975.

Trong đội hình cánh quân phía Bắc của Chiến dịch Hồ Chí Minh, Đại đội 3 của Hoàng Thọ Mạc được phối thuộc cho Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B, do Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy.

Sau khi đánh chiếm Lái Thiêu, tiêu diệt một xe tăng M41 và hai pháo tự hành 175 mm của đối phương, xe thiết giáp số 454 do Hoàng Thọ Mạc trực tiếp chỉ huy vọt lên dẫn đầu đội hình thọc sâu hướng về cầu Vĩnh Bình.

Cầu Vĩnh Bình khi ấy là một vị trí có ý nghĩa đặc biệt.

Nếu chiếm được cây cầu, cánh cửa phía Bắc vào Sài Gòn sẽ được mở.

Nếu bị chặn lại, đội hình cơ giới phía sau sẽ không thể nhanh chóng tiến vào nội đô.

Đối phương bố trí lực lượng phòng thủ mạnh, có xe tăng, thiết giáp, công sự và nhiều chướng ngại vật bằng những thùng phuy đổ đầy đất chắn ngang đường.

Đội hình quân giải phóng phải giành giật từng mét cầu. Một xe thiết giáp bị bắn cháy, một số chiến sĩ hy sinh và bị thương.

Trong tình thế ấy, Hoàng Thọ Mạc quyết định thay đổi cách đánh.

Xe tăng, thiết giáp dùng hỏa lực chế áp. Bộ binh lợi dụng địa hình tiến lên chiếm cầu.

Được Trung đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu đồng ý, Hoàng Thọ Mạc khoác khẩu B40, từ trên xe lao xuống trực tiếp chỉ huy bộ đội xung phong.

Một người chỉ huy xe tăng đã rời khỏi chiếc xe của mình để chiến đấu cùng bộ binh trên mặt cầu.

Đó là thời khắc mà bản lĩnh của người chỉ huy được thử thách bằng chính sinh mạng của mình.

“Anh đã ngã xuống để bảo vệ đồng đội”

Bộ đội ta nhanh chóng chiếm được đầu cầu phía Bắc.

Đội hình phía sau lập tức tiến lên.

Nhưng trong lúc chiến đấu, một mảnh đạn M79 găm vào ngực Hoàng Thọ Mạc.

Máu thấm đẫm áo.

Ông tự băng bó vết thương rồi tiếp tục chiến đấu.

Đối phương bắt đầu lùi dần nhưng vẫn dùng hỏa lực bắn mạnh vào cầu.

Hoàng Thọ Mạc gượng dậy, tiếp tục dẫn đầu đội hình.

Khi quân ta đã đi qua khoảng hai phần ba cầu, một chớp lửa bùng lên.

Người chiến sĩ chạy cạnh ông đứng trước làn đạn.

Hoàng Thọ Mạc xô người đồng đội xuống rồi nằm đè lên để chắn đạn.

Ông hy sinh.

Lúc đó đã hơn 9 giờ sáng 30.4.1975.

Cầu Vĩnh Bình cũng vừa được quân giải phóng làm chủ.

Cánh cửa phía Bắc vào Sài Gòn đã mở.

Còn người mở cánh cửa ấy đã nằm lại trên cây cầu.

Người lính vẫn tiếp tục hành quân

Nguyễn Huy Hiệu vô cùng tiếc thương người đồng đội.

Nhưng trận đánh chưa kết thúc.

Ông quyết định đưa thi thể Hoàng Thọ Mạc lên chính chiếc xe thiết giáp số 454 mà người đại đội trưởng từng chỉ huy, rồi ra lệnh tiếp tục hành tiến vào nội đô Sài Gòn.

Một hình ảnh có sức ám ảnh:

Người lính đã hy sinh nhưng vẫn cùng đồng đội tiến về Sài Gòn trên chiếc xe thiết giáp của mình.

Từ cầu Vĩnh Bình, đội hình tiếp tục tiến công các mục tiêu ở Gò Vấp, trong đó có Bộ tư lệnh các binh chủng, khu Lục quân công xưởng, khu hậu cần và Tổng Y viện Cộng hòa.

Chiều 30.4, khi Sài Gòn đã được giải phóng, tại Tổng Y viện Cộng hòa, Nguyễn Huy Hiệu ra lệnh tìm mua quan tài để mai táng người đồng đội. Lễ tang Hoàng Thọ Mạc được tổ chức ngay trong ngày đất nước thống nhất.

Ông đã đi đến Sài Gòn.

Nhưng không phải bằng đôi chân của người sống.

Gần hai giờ trước ngày toàn thắng

11 giờ 30 phút ngày 30.4.1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Đất nước bước vào ngày thống nhất.

Nhưng khoảng hơn 9 giờ sáng hôm ấy, ở cầu Vĩnh Bình, Hoàng Thọ Mạc đã nằm xuống.

Khoảng cách giữa sự hy sinh của ông và thời khắc toàn thắng chỉ là hơn hai giờ.

Ông không nhìn thấy lá cờ chiến thắng.

Không nghe tiếng reo mừng trong những con phố Sài Gòn.

Không trở về quê để thực hiện lời hứa với người vợ trẻ.

Nhưng ông đã làm xong phần việc của mình.

Cùng những người lính khác, ông đã mở một trong những cánh cửa để đoàn quân tiến vào Sài Gòn.

Người vợ giữ lại một bức thư

Nhiều năm sau chiến tranh, điều còn lại trong căn nhà của Hoàng Thọ Mạc không chỉ là những dòng ghi trong hồ sơ liệt sĩ.

Đó còn là những kỷ vật của một người chồng.

Là bức thư cuối cùng viết từ Bình Dương.

Là lời hứa chưa bao giờ thực hiện.

Là ký ức về một người lính thường chỉ có thể trở về nhà trong những ngày phép ngắn ngủi.

Và là câu chuyện về một người con trai duy nhất của một liệt sĩ chống Pháp, rồi chính mình lại trở thành liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Năm 2009, sau nhiều năm tìm kiếm với sự giúp đỡ của đồng đội và cơ quan chức năng, gia đình đưa được hài cốt Hoàng Thọ Mạc về an táng tại nghĩa trang quê nhà.

Năm 1975, Nhà nước truy tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; ông cũng được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba.

Khẩu súng K54 ông sử dụng trong trận đánh cuối cùng hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp.

Mỗi năm, đến ngày 30.4, gia đình lại tưởng nhớ ông.

Một ngày mà cả đất nước mừng chiến thắng.

Cũng là ngày một gia đình nhớ về người chồng, người cha, người con đã không trở về.

Cây cầu và người lính

Cầu Vĩnh Bình hôm nay không còn là chiến địa năm xưa.

Những chiếc xe vẫn đi qua.

Dòng người vẫn xuôi ngược.

Có thể nhiều người đi qua cây cầu ấy mà không biết rằng, hơn nửa thế kỷ trước, nơi đây từng diễn ra một trận chiến quyết liệt. Có một người lính xe tăng đã ngã xuống khi đội hình của mình đang vượt qua cầu.

Hoàng Thọ Mạc đã hy sinh ở đó.

Nhưng câu chuyện về ông không kết thúc trên mặt cầu.

Nó đi cùng đồng đội vào Sài Gòn.

Đi vào những trang sử về ngày 30.4.

Đi vào ký ức của người vợ đã chờ ông trở về.

Và đi vào ký ức của những người từng chiến đấu bên ông.

Có những người lính sống để chứng kiến chiến thắng.

Có những người lính hy sinh ngay trước chiến thắng.

Hoàng Thọ Mạc thuộc về những người thứ hai.

Ông không kịp trở về để thực hiện lời hứa với vợ:

“Anh tham gia trận này xong là anh về”.

Nhưng ông đã giữ một lời hứa lớn hơn.

Đó là lời hứa của người lính với Tổ quốc.

Và trên cây cầu Vĩnh Bình sáng 30.4.1975, ông đã đi đến tận cùng lời hứa ấy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn