Vũ Xuân Đài - Người anh hùng từ anh nuôi trở thành xạ thủ diệt máy bay với những chiến công bất tử
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lịch sử dân tộc đã ghi dấu biết bao người con tuổi đời còn rất trẻ nhưng mang trong mình lòng dũng cảm và ý chí chiến đấu phi thường. Trong số đó, Vũ Xuân Đài là một tấm gương tiêu biểu. Từ một chiến sĩ làm nhiệm vụ anh nuôi, bằng khát vọng được trực tiếp chiến đấu và tinh thần quả cảm, ông đã trở thành một xạ thủ phòng không xuất sắc, cùng đồng đội lập nên chiến công bắn rơi 37 máy bay địch. Với những đóng góp ấy, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tháng 4 năm 1965, chàng trai trẻ Vũ Xuân Đài nhập ngũ trong một đơn vị gồm những người con của Thủ đô Hà Nội. Khi đơn vị vào chiến trường Khu 5, ông được biên chế vào tiểu đội lắp đạn rồi chuyển sang làm anh nuôi vì thân hình nhỏ bé, chỉ nặng 43 kg. Công việc hậu cần không thể dập tắt khát vọng chiến đấu trong lòng người lính trẻ. Mỗi lần đưa cơm đến trận địa, nhìn đồng đội trực tiếp chiến đấu, ông lại nung nấu mong muốn được cầm súng.
Bước ngoặt đến trong một trận đánh tại Việt An, Quảng Nam. Khi máy bay địch xuất hiện, Vũ Xuân Đài mang đạn ra trận địa. Nhìn thấy máy bay địch sà xuống, ông bất ngờ nằm xuống bãi tranh, dùng hai hòm đạn che đầu rồi giương khẩu K44 bắn vào máy bay. Hành động ấy khiến ông bị kiểm điểm vì tự ý nổ súng, nhưng chính tinh thần táo bạo và ý chí chiến đấu đó đã khiến cấp trên nhận thấy khả năng đặc biệt của ông. Vũ Xuân Đài được điều lên làm xạ thủ số 1 của Tiểu đoàn 14 Phòng không.
Ngày 4 tháng 3 năm 1967, tại Phú Sơn, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, trong trận chiến đầu tiên trên cương vị xạ thủ số 1, ông cùng đồng đội đã bắn rơi bốn máy bay địch, làm nức lòng quân dân Khu 5. Từ đó, tên tuổi Vũ Xuân Đài ngày càng được biết đến. Ở tuổi 19, ông đã có những sáng kiến trong cách ngắm bắn và sử dụng đạn, đặc biệt là ngắm bằng cả hai mắt, kết hợp đạn lửa với đạn xuyên để tăng hiệu quả chiến đấu. Nhưng trên hết vẫn là bản lĩnh dám đối mặt với máy bay địch trong những thời khắc sinh tử.
Từ năm 1965 đến năm 1968, Vũ Xuân Đài tham gia hơn 30 trận đánh. Cùng đồng đội, ông đã bắn rơi 37 máy bay địch thuộc nhiều loại khác nhau. Có những chiến công đặc biệt xuất sắc như trận Thanh Quýt, ông bắn cháy máy bay C47 chở nhiều sĩ quan và binh lính địch; tại Bình Trị, ông tiêu diệt liên tiếp ba chiếc HU1A bay gần nhau. Tuy nhiên, những chiến công ấy cũng phải đánh đổi bằng nhiều lần bị thương. Trong trận đánh sân bay Đà Nẵng năm 1968, ông bị mảnh đạn găm vào lưng. Sau đó, tại Tiên Phước, ông tiếp tục bị thương nặng ở vùng mặt và mắt. Đến năm 1969, trong một trận đánh ngày 23 tháng 9, ông bị thương nặng, khép lại chặng đường chiến đấu trực tiếp với máy bay địch.
Sau chiến tranh, cuộc đời Vũ Xuân Đài bước sang một trang mới. Ông trở về đời thường, trải qua nhiều công việc khác nhau và gắn bó với thành phố Hải Dương. Dù không còn cầm súng nơi chiến trường, tinh thần lao động và ý chí vươn lên của người lính năm xưa vẫn được tiếp nối. Năm 1994, những chiến công của ông được đồng đội và các thủ trưởng cũ tìm lại, xác minh qua những tư liệu đã được đăng trên báo chí trong những năm chiến tranh. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Chủ tịch nước Lê Đức Anh ký quyết định phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều đáng trân trọng ở Vũ Xuân Đài không chỉ nằm ở con số 37 máy bay bị bắn rơi, mà còn ở tinh thần dám vượt lên hoàn cảnh, dám theo đuổi khát vọng và sẵn sàng cống hiến khi Tổ quốc cần. Từ một người lính nhỏ bé làm nhiệm vụ anh nuôi, ông đã trở thành một trong những xạ thủ phòng không có thành tích nổi bật của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Sau chiến tranh, ông tiếp tục sống, lao động và đóng góp cho xã hội bằng nghị lực của một người từng bước ra từ chiến trường.
Vũ Xuân Đài là hình ảnh đẹp của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến tranh: tuổi đời còn rất trẻ nhưng lý tưởng lớn, lòng yêu nước sâu sắc và ý chí chiến đấu kiên cường. Những chiến công của ông cùng đồng đội không chỉ thuộc về quá khứ mà còn là bài học về lòng dũng cảm, trách nhiệm và tinh thần cống hiến cho thế hệ hôm nay.


