NGƯỜI LÙI MỘT BƯỚC ĐỂ CÁCH MẠNG TIẾN LÊN
Có những con người đi vào lịch sử bằng một trận đánh.
Có người được nhớ đến bởi một chiến công giữa chiến trường.
Cũng có những người được nhắc tên qua những năm tháng ở vị trí lãnh đạo.
Nhưng trong những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến, có một kiểu cống hiến lặng lẽ hơn: biết đặt việc chung lên trên vị trí của chính mình.
Ở quê hương Sóc Trăng, câu chuyện về Lê Văn Mỹ, thường gọi là Năm A, là một câu chuyện như thế.
Ông không phải người nổi tiếng bởi một trận đánh vang dội.
Tên tuổi ông gắn với những năm tháng xây dựng cơ sở cách mạng, vận động nhân dân, giữ gìn phong trào trong những thời điểm cam go nhất và lãnh đạo địa phương đi qua những bước ngoặt của chiến tranh.
Đặc biệt, khi đang giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng, ông đã tự nguyện đề xuất người khác thay mình khi nhận thấy tuổi cao không còn đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ.
Một quyết định tưởng như đơn giản.
Nhưng trong những năm tháng chiến tranh, đó là một biểu hiện rất sâu sắc của bản lĩnh người cán bộ cách mạng.
Bởi có những lúc, điều khó nhất không phải là bước lên.
Mà là biết khi nào cần lùi lại để người khác bước lên.
Lê Văn Mỹ sinh năm 1911, là người con thứ năm trong gia đình có mười người con của ông Lê Văn Quy và bà Nguyễn Thị Bửu ở làng Long Phú, quận Long Mỹ, tỉnh Rạch Giá.
Tuổi thơ của ông gắn với trường làng và công việc đồng áng.
Không phải một gia đình quyền thế.
Không phải một môi trường đặc biệt.
Ông lớn lên như nhiều thanh niên nông dân Nam Bộ cùng thời: học hành vừa đủ rồi phụ giúp gia đình làm ruộng.
Nhưng cuộc sống của người nông dân dưới chế độ thuộc địa đã sớm hình thành trong ông sự bất bình trước cảnh nghèo khổ, áp bức và sự bất công của xã hội.
Năm 1944, khi đã 33 tuổi, Lê Văn Mỹ bắt đầu tích cực tham gia các hoạt động ở địa phương.
Đó là thời điểm tình hình chính trị ở Đông Dương ngày càng biến động.
Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp.
Không khí cách mạng dâng lên mạnh mẽ ở nhiều vùng nông thôn Nam Bộ.
Tại Long Phú, những người trẻ tuổi, những người nông dân và các lực lượng yêu nước bắt đầu đứng lên.
Lê Văn Mỹ tham gia Thanh niên Tiền phong.
Rồi ngày 28 tháng 8 năm 1945, ông cùng lực lượng thanh niên tham gia giành chính quyền ở quận Long Mỹ.
Sau đó, đoàn người trở về Long Phú để xây dựng chính quyền cách mạng tại làng.
Từ một người nông dân, Lê Văn Mỹ bắt đầu bước vào một con đường hoàn toàn khác.
Con đường mà sau này sẽ kéo dài suốt hơn sáu thập niên.
Năm 1947, Lê Văn Mỹ được kết nạp vào Đảng.
Ông được phân công làm Hội trưởng Nông dân làng Long Phú.
Một năm sau, ông trở thành Bí thư Chi bộ và Thư ký Mặt trận xã.
Đến năm 1951, ông vừa giữ cương vị Bí thư Chi bộ vừa làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính xã Long Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Những chức vụ ấy không chỉ là những dòng chữ trong hồ sơ.
Ở một vùng quê đang có chiến tranh, mỗi nhiệm vụ đều gắn với những công việc rất cụ thể.
Vận động nhân dân.
Xây dựng cơ sở.
Tổ chức sản xuất.
Chăm lo đời sống.
Giữ vững phong trào.
Bảo vệ cán bộ.
Và quan trọng nhất là xây dựng niềm tin của nhân dân đối với cách mạng.
Năm 1952, ông được điều động sang làm Thường vụ Huyện ủy Châu Thành, đồng thời phụ trách công tác Mặt trận.
Ông cũng tham gia Đoàn cải cách ruộng đất của tỉnh, trực tiếp phụ trách địa bàn Châu Thành.
Công việc khi ấy là chăm lo việc thực hiện chính sách ruộng đất, chia phần ruộng đất tịch thu của địa chủ cho nông dân nghèo và vận động nông dân thực hiện chính sách thuế nông nghiệp.
Từ năm 1952 đến khi đình chiến tháng 7 năm 1954, Lê Văn Mỹ cùng Đảng bộ và quân dân Châu Thành từng bước xây dựng huyện trở thành hậu phương vững chắc cho chiến trường Sóc Trăng.
Đó là một kiểu chiến đấu không có tiếng súng liên tục.
Nhưng nếu hậu phương không vững, tiền tuyến không thể đứng vững.
Nếu nhân dân không tin tưởng, cơ sở cách mạng không thể tồn tại.
Nếu sản xuất không được duy trì, chiến trường sẽ thiếu lương thực.
Nếu cán bộ không được bảo vệ, phong trào sẽ bị đứt gãy.
Vì thế, những người làm công tác xây dựng cơ sở chính là những người âm thầm giữ phần gốc của cuộc kháng chiến.
Lê Văn Mỹ thuộc về những con người như thế.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, cuộc sống của những người hoạt động cách mạng ở miền Nam bước vào một giai đoạn đầy thử thách.
Đất nước tạm thời chia cắt.
Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ tập kết ra miền Bắc.
Một bộ phận ở lại tiếp tục hoạt động.
Lê Văn Mỹ thuộc về những người ở lại.
Sau một lớp chỉnh huấn về tình hình mới và nhiệm vụ mới, ông được đề bạt làm Bí thư Huyện ủy Châu Thành.
Đây là thời kỳ đặc biệt khó khăn.
Những tổ chức cách mạng công khai trước đó phải chuyển sang hoạt động bí mật.
Các tổ chức quần chúng phải thay đổi hình thức.
Cán bộ phải tránh sự truy bắt.
Phong trào phải tồn tại dưới sức ép ngày càng lớn.
Và người lãnh đạo địa phương phải tìm ra cách để vừa bảo vệ lực lượng, vừa giữ được phong trào.
Năm 1956, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, các xã tập trung vào những vấn đề gắn trực tiếp với quyền lợi và cuộc sống của người dân.
Đó là những yêu cầu về dân sinh, dân chủ, trợ cấp cho những gia đình gặp mất mùa, bệnh tật và những vấn đề thiết thân khác.
Đấu tranh cách mạng lúc ấy không phải lúc nào cũng diễn ra bằng súng.
Có khi đó là một cuộc vận động.
Một yêu cầu chính đáng.
Một cuộc đấu tranh của nông dân.
Một cách giữ cho nhân dân không bị đẩy ra khỏi phong trào.
Một cách để người dân hiểu rằng cách mạng không phải điều gì xa xôi.
Cách mạng bắt đầu từ chính những quyền lợi và cuộc sống của họ.
Đó cũng là một phần trong cách làm công tác dân vận của Lê Văn Mỹ.
Cuối năm 1957, ông được điều sang làm Phó Bí thư Huyện ủy Vĩnh Lợi - Vĩnh Châu.
Việc điều chuyển vừa nhằm tránh sự truy nã của địch, vừa tăng cường cán bộ cho một địa bàn xung yếu.
Một lần nữa, ông rời nơi quen thuộc để đến một địa bàn mới.
Trong chiến tranh, người cán bộ không có một nơi làm việc cố định.
Hôm nay có thể là Châu Thành.
Ngày mai là Vĩnh Châu.
Sau đó có thể là Mỹ Xuyên.
Mỗi địa bàn có một hoàn cảnh khác nhau.
Nhưng nhiệm vụ vẫn là giữ phong trào và giữ dân.
Đầu năm 1961, trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, một số địa bàn được tổ chức lại để thành lập huyện Mỹ Xuyên.
Lê Văn Mỹ được điều sang làm Bí thư Huyện ủy Mỹ Xuyên.
Tháng 5 năm ấy, ông được bổ sung vào Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách Nông hội.
Cuối năm 1961, ông được điều động làm Trưởng ban An ninh.
Đến tháng 10 năm 1964, ông được chỉ định làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, phụ trách công tác Dân vận và Mặt trận.
Qua mỗi giai đoạn, nhiệm vụ lại thay đổi.
Từ công tác nông dân.
Đến an ninh.
Từ xây dựng cơ sở.
Đến dân vận.
Từ cấp xã.
Đến cấp huyện.
Rồi cấp tỉnh.
Con đường ấy không được xây bằng những bước nhảy vọt.
Nó được tạo nên từ từng nhiệm vụ hoàn thành trong suốt nhiều năm.
Tháng 4 năm 1969, Lê Văn Mỹ được giao làm Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng.
Khi ấy, ông đã gần 60 tuổi.
Đó là độ tuổi mà nhiều người đã nghĩ đến việc nghỉ ngơi.
Nhưng chiến tranh chưa kết thúc.
Nhiệm vụ còn rất nặng nề.
Sóc Trăng vẫn là một địa bàn chiến lược.
Phong trào cách mạng cần được giữ vững.
Cơ sở cần được bảo vệ.
Nhân dân cần được vận động.
Lực lượng cần được củng cố.
Và người đứng đầu Tỉnh ủy phải gánh trên vai trách nhiệm rất lớn.
Lê Văn Mỹ tiếp tục nhận nhiệm vụ.
Không phải vì chức vụ.
Mà vì yêu cầu của cách mạng lúc ấy cần một người có kinh nghiệm, có uy tín và có khả năng đứng vững giữa những biến động.
Những năm 1969–1970 là những năm tháng chiến tranh vô cùng khốc liệt.
Ở nhiều vùng của miền Tây Nam Bộ, cuộc đấu tranh diễn ra dai dẳng.
Cán bộ phải bám dân.
Cơ sở phải bám địa bàn.
Những người lãnh đạo phải thường xuyên di chuyển, làm việc trong điều kiện thiếu thốn và nguy hiểm.
Ở vị trí Bí thư Tỉnh ủy, Lê Văn Mỹ không trực tiếp cầm súng ở tuyến đầu như những chiến sĩ du kích.
Nhưng mọi quyết định của ông đều có thể ảnh hưởng đến phong trào trên toàn tỉnh.
Một quyết định đúng có thể giữ được cơ sở.
Một quyết định sai có thể khiến nhiều người gặp nguy hiểm.
Vì vậy, sức nặng của trách nhiệm không hề nhẹ hơn một khẩu súng trên chiến trường.
Rồi đến năm 1971.
Một cuộc chỉnh huấn và Chỉ thị số 01 của Trung ương Cục đặt ra yêu cầu mới đối với công tác lãnh đạo.
Chiến tranh bước vào giai đoạn mới.
Yêu cầu đối với người lãnh đạo cũng cao hơn.
Lê Văn Mỹ nhìn lại chính mình.
Tuổi đã cao.
Sức khỏe không còn như trước.
Trong khi đó, công việc phía trước ngày càng nặng nề.
Một người có thể giữ chức vụ rất lâu.
Nhưng một người cán bộ cách mạng phải biết khi nào sức mình không còn phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ.
Và chính tại đây, câu chuyện về Năm A trở nên đặc biệt.
Ông đã tự nguyện đề xuất với Khu ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy đưa Lê Phước Thọ lên giữ chức Bí thư Tỉnh ủy thay mình.
Còn ông nhận cương vị Phó Bí thư Tỉnh ủy, tiếp tục phụ trách Dân vận và Mặt trận.
Đó là một quyết định không dễ dàng.
Bởi vị trí Bí thư Tỉnh ủy là trọng trách lớn.
Nhưng cũng là một vị trí có uy tín.
Một vị trí mà nhiều người có thể mong muốn giữ lại.
Lê Văn Mỹ thì lựa chọn khác.
Ông không xem việc chuyển giao nhiệm vụ là mất đi vị trí.
Ông xem đó là cách để tổ chức có người phù hợp hơn với yêu cầu mới.
Đó là sự khác biệt giữa giữ một chức vụ và giữ một trách nhiệm.
Người chỉ muốn giữ chức vụ sẽ cố giữ chiếc ghế.
Người đặt việc chung lên trên hết sẽ giữ lấy mục tiêu của tổ chức.
Có lẽ chính vì vậy mà câu chuyện về Năm A không cần đến một trận đánh lớn.
Không cần đến những con số về số quân bị tiêu diệt.
Không cần đến một chiến công vang dội.
Chỉ riêng quyết định năm 1971 cũng đủ nói lên rất nhiều về nhân cách của ông.
Một người đã đi qua hơn hai mươi năm hoạt động cách mạng.
Từ một thanh niên nông dân.
Đến cán bộ xã.
Đến cán bộ huyện.
Đến Bí thư Huyện ủy.
Đến Phó Bí thư Tỉnh ủy.
Đến Trưởng ban An ninh.
Rồi Bí thư Tỉnh ủy.
Sau tất cả, khi thấy mình không còn phù hợp nhất với vị trí cao nhất, ông chủ động lùi lại.
Không phải rút khỏi cuộc chiến.
Mà là đổi vị trí để tiếp tục chiến đấu.
Cuối năm 1972, Khu ủy điều ông lên nhận nhiệm vụ tại Ủy ban Kiểm tra Khu ủy.
Ông tiếp tục công tác cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
Chiến tranh kết thúc.
Nhưng công việc của người cán bộ không kết thúc.
Đầu năm 1976, ông chuyển về làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng của Tỉnh ủy Hậu Giang.
Năm 1977, ông nghỉ hưu và trở về xã Long Phú, huyện Long Mỹ sinh sống.
Một người từng đứng ở vị trí lãnh đạo cao nhất của tỉnh trở về với đời sống bình dị.
Không có sự cách biệt.
Không có khoảng cách giữa một cán bộ từng giữ trọng trách lớn với những người dân quê.
Ông tiếp tục sống giữa quê hương.
Năm 1992, khi tỉnh Sóc Trăng được tái lập, Lê Văn Mỹ cùng gia đình trở về Sóc Trăng.
Tuổi đã cao.
Nhưng ông vẫn sinh hoạt tại chi bộ hưu trí.
Vẫn tham gia công việc chung.
Vẫn giúp đỡ việc sưu tầm tư liệu và góp ý cho các bản thảo lịch sử Đảng bộ tỉnh.
Đây là một chi tiết rất đẹp trong những năm cuối đời của ông.
Một người từng trực tiếp sống trong những giai đoạn lịch sử ấy lại trở thành người góp phần giúp thế hệ sau hiểu về lịch sử.
Ông không chỉ sống trong lịch sử.
Ông còn giúp lưu giữ lịch sử.
Những người từng gặp Năm A khi ấy nhớ về một người có lối sống giản dị, chan hòa, gần gũi với đồng chí, đồng bào và giàu tình cảm với quê hương. Địa chí tỉnh Sóc Trăng ghi nhận ông là người có đạo đức cách mạng, thủy chung, son sắt và được nhiều thế hệ kính trọng.
Có một điều đáng suy ngẫm.
Một người từng giữ chức Bí thư Tỉnh ủy nhưng khi về hưu vẫn có thể ngồi bên những người dân bình thường.
Một người từng đứng ở trung tâm của những quyết định lớn nhưng không biến mình thành người xa cách.
Một người từng trải qua những năm tháng bí mật, gian khổ nhưng không đánh mất sự giản dị.
Có lẽ chính điều đó làm nên giá trị của một người lãnh đạo.
Lê Văn Mỹ được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Trong đó có Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Độc lập hạng Nhất, các Huân chương Kháng chiến, Huân chương Giải phóng, Huân chương Quyết thắng và nhiều huân, huy chương khác.
Nhưng nếu phải chọn một “phần thưởng” đặc biệt nhất trong cuộc đời ông, có lẽ đó là sự tin tưởng của đồng chí, đồng bào qua nhiều thập niên.
Bởi huân chương có thể ghi nhận một chặng đường.
Còn lòng tin của nhân dân là sự ghi nhận dành cho cả một đời người.
Ngày 12 tháng 3 năm 2008, Lê Văn Mỹ qua đời, hưởng thọ 97 tuổi.
97 năm.
Gần một thế kỷ.
Ông sinh ra trong thời thuộc địa.
Trưởng thành giữa những biến động của Cách mạng Tháng Tám.
Đi qua hai cuộc kháng chiến.
Từng chứng kiến những ngày đất nước chia cắt.
Từng sống qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Từng có mặt trong những ngày đất nước thống nhất.
Và cuối cùng trở thành một trong những người có thể kể lại lịch sử từ chính những trải nghiệm của mình.
Một cuộc đời dài.
Nhưng điều đáng nhớ không nằm ở độ dài.
Mà ở những gì đã được gửi lại cho quê hương trong từng chặng đường ấy.
Có những bài học về lòng yêu nước được viết bằng máu.
Có những bài học về lòng dũng cảm được viết giữa chiến trường.
Cũng có những bài học về trách nhiệm được viết bằng những quyết định rất lặng lẽ.
Câu chuyện của Lê Văn Mỹ thuộc về bài học thứ ba.
Một người lãnh đạo có thể chiến đấu để giữ vị trí.
Nhưng người lãnh đạo chân chính phải biết đặt lợi ích chung cao hơn vị trí cá nhân.
Một người cán bộ có thể muốn tiếp tục ở nơi quyền lực nhất.
Nhưng người cán bộ có trách nhiệm phải biết khi nào cần trao lại trọng trách cho người phù hợp hơn.
Một người có thể dành cả đời để đi lên.
Nhưng giá trị của một con người đôi khi lại được thể hiện rõ nhất ở khoảnh khắc biết bước xuống.
Năm 1971, Lê Văn Mỹ đã làm điều ấy.
Ông lùi một bước.
Nhưng cách mạng tiến thêm một bước.
Ông rời vị trí Bí thư Tỉnh ủy.
Nhưng không rời nhiệm vụ.
Ông thôi đứng ở vị trí cao nhất.
Nhưng vẫn tiếp tục làm công tác Dân vận và Mặt trận.
Ông không đặt câu hỏi rằng mình còn giữ được gì.
Mà đặt câu hỏi rằng tổ chức cần gì.
Đó là tinh thần của một thế hệ đã đi qua chiến tranh.
Ngày nay, khi nhìn lại câu chuyện ấy, điều đáng quý không chỉ nằm ở lịch sử.
Nó còn là một bài học cho những người trẻ.
Trong học tập, hoạt động Đoàn – Hội hay công tác tập thể, đôi khi ai cũng muốn được ghi nhận.
Ai cũng muốn có một vị trí.
Ai cũng muốn tên mình xuất hiện ở nơi nổi bật.
Nhưng hoạt động vì cộng đồng không chỉ cần những người muốn đứng đầu.
Nó cần những người biết nhận trách nhiệm khi cần và cũng biết nhường vị trí khi người khác phù hợp hơn.
Đó không phải là yếu đuối.
Đó là trưởng thành.
Một người trưởng thành không phải là người luôn cố chứng minh mình giỏi hơn người khác.
Mà là người hiểu rằng mục tiêu chung quan trọng hơn việc ai được đứng tên.
Một tập thể trưởng thành không phải là tập thể chỉ có một người giỏi.
Mà là tập thể biết tìm đúng người cho đúng nhiệm vụ.
Và một người lãnh đạo tốt không phải là người giữ chiếc ghế lâu nhất.
Mà là người để lại một tập thể có thể tiếp tục đi xa ngay cả khi mình không còn ở vị trí ấy.
Lê Văn Mỹ đã để lại một bài học như vậy.
Có lẽ nếu chỉ nhìn vào những chức vụ, cuộc đời Năm A là một hành trình đi lên.
Nhưng nếu nhìn sâu hơn, đó là một hành trình của sự dấn thân.
Từ người nông dân tham gia Thanh niên Tiền phong.
Đến người giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám.
Đến cán bộ xã.
Đến cán bộ huyện.
Đến Bí thư Huyện ủy.
Đến Trưởng ban An ninh.
Đến Phó Bí thư Tỉnh ủy.
Đến Bí thư Tỉnh ủy.
Rồi lại trở về với công tác Dân vận, Mặt trận và Ủy ban Kiểm tra.
Vị trí thay đổi.
Nhưng trách nhiệm không thay đổi.
Đó là trách nhiệm với nhân dân.
Với tổ chức.
Với quê hương.
Với đất nước.
Những năm tháng cuối đời, Năm A không còn đứng giữa những cuộc họp căng thẳng của chiến tranh.
Không còn những chuyến đi bí mật.
Không còn những địa bàn bị địch kiểm soát.
Không còn những quyết định sinh tử.
Nhưng ông vẫn tiếp tục làm một việc rất quan trọng:
nhớ.
Nhớ những năm tháng đã qua.
Nhớ những con người từng đồng hành.
Nhớ những hy sinh của đồng bào, đồng chí.
Và giúp thế hệ sau hiểu được lịch sử bằng những tư liệu chân thực.
Một người từng sống trong lịch sử cuối cùng trở thành một trong những người giữ ký ức lịch sử.
Đó cũng là một cách tiếp tục phục vụ quê hương.
Nếu có một hình ảnh để khép lại câu chuyện về Lê Văn Mỹ, có lẽ đó không phải hình ảnh một người đứng trên bục cao.
Mà là hình ảnh một người cán bộ lớn tuổi trở về với quê hương.
Không còn chức vụ.
Không còn quyền lực.
Nhưng vẫn được mọi người kính trọng.
Bởi sau gần một thế kỷ, điều còn lại không phải là chiếc ghế từng ngồi.
Mà là cách một con người đã sống.
Một đời người có thể rất dài.
Nhưng lịch sử chỉ nhớ những điều có ý nghĩa.
Lê Văn Mỹ đã đi qua 97 năm cuộc đời bằng một con đường nhiều biến động.
Ông từng sống trong thời thuộc địa.
Đã góp phần giành chính quyền năm 1945.
Đã xây dựng cơ sở trong kháng chiến chống Pháp.
Đã lãnh đạo phong trào trong những năm tháng chống Mỹ.
Đã đứng đầu Tỉnh ủy Sóc Trăng.
Và đã chủ động nhường lại vị trí khi thấy người khác phù hợp hơn.
Sau tất cả, ông trở về với đời sống bình dị.
Một con người đã từng ở nơi cao nhất của một tổ chức nhưng không để vị trí làm thay đổi mình.
Có lẽ đó chính là điều khiến câu chuyện về Năm A vẫn đáng được kể.
Bởi lịch sử không chỉ cần những người dũng cảm bước lên phía trước.
Lịch sử còn cần những người đủ bản lĩnh để lùi lại đúng lúc.
Lùi không phải vì thất bại.
Lùi để người khác tiếp tục.
Lùi để công việc chung tốt hơn.
Lùi để một thế hệ mới có cơ hội nhận trọng trách.
Và đôi khi, chính bước lùi ấy lại là một trong những bước tiến đẹp nhất của một con người.
Từ một người nông dân Long Phú đến Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng.
Từ một người hoạt động cơ sở đến một cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh.
Từ chiến tranh đến hòa bình.
Từ vị trí lãnh đạo đến cuộc sống hưu trí.
Cả cuộc đời Lê Văn Mỹ có thể được gói lại bằng một điều rất giản dị:
Làm việc vì việc chung.
Không đặt mình lên trước tổ chức.
Không đặt chức vụ lên trên trách nhiệm.
Không đặt lợi ích cá nhân lên trên nhân dân.
Và khi đến lúc cần trao lại trọng trách, ông đã chọn trao đi.
Để người khác bước tiếp.
Để công việc tiếp tục.
Để quê hương tiếp tục đi về phía trước.
Hơn nửa thế kỷ sau những năm tháng chiến tranh, quê hương Sóc Trăng đã đổi thay.
Những vùng đất từng là chiến trường nay là những cánh đồng, những con đường, những mái trường.
Những thế hệ sinh ra sau chiến tranh lớn lên trong hòa bình.
Có thể họ không biết hết những con người đã từng âm thầm giữ lấy quê hương.
Nhưng mỗi con đường mang tên những người đi trước, mỗi trang lịch sử được mở ra, mỗi câu chuyện được kể lại đều là một cách để quá khứ tiếp tục hiện diện.
Và trong dòng ký ức ấy, Lê Văn Mỹ vẫn còn đó.
Không phải chỉ với tư cách một Bí thư Tỉnh ủy.
Mà với tư cách một người cán bộ đã dành gần trọn đời cho quê hương.
Một người đã hiểu rằng chức vụ chỉ là một nhiệm vụ, còn trách nhiệm với nhân dân mới là điều phải giữ suốt đời.
Có những người đi vào lịch sử bằng một tiếng súng.
Có người bằng một lá cờ.
Có người bằng một trận đánh.
Còn Lê Văn Mỹ đi vào lịch sử bằng một quyết định rất lặng lẽ:
biết lùi lại khi việc chung cần một người khác tiến lên.
Và có lẽ, giữa những năm tháng đầy tiếng súng của thời hoa lửa, đó chính là một thứ dũng khí rất đặc biệt.
Dũng khí của người biết đặt mình xuống để Tổ quốc, quê hương và cách mạng được đặt lên trên.


