Người Mẹ Giữa Hai Mùa Lửa Đạn – Bùi Thị Mè
Người Mẹ Giữa Hai Mùa Lửa Đạn – Bùi Thị Mè
Người Mẹ Giữa Hai Mùa Lửa Đạn – Bùi Thị Mè
Trong buổi sinh hoạt truyền thống tháng Ba, khi câu chuyện về những người phụ nữ anh hùng được nhắc lại, đoàn viên, thanh niên xã Sin Suối Hồ lặng đi trước cuộc đời đầy hy sinh và khí phách của Bùi Thị Mè – người mẹ mà đồng đội trìu mến gọi là Năm Mè.
Mẹ sinh ngày 26/6/1928 trong một gia đình trí thức. Cha là ông Bùi Văn Tám, mẹ là bà Võ Thị Quý. Từ nhỏ, mẹ đã được học hành chu đáo. Cô học trò thông minh năm nào từng đỗ nội trú trường nữ học đường ở Vĩnh Long, rồi thi đậu bằng Thành chung – một thành tích đáng tự hào của người con gái Nam bộ thời ấy.
Lớn lên, mẹ kết duyên cùng ông Nguyễn Văn Nhơn – một giáo chức giàu lòng yêu nước. Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược Nam Bộ năm 1946, vợ chồng mẹ lấy danh nghĩa thương gia để hoạt động hợp pháp, bí mật ủng hộ kinh tế cho kháng chiến. Bến Tre bị địch chiếm, gia đình chuyển sang Trà Vinh tiếp tục hoạt động.
Năm 1950, khi mới 29 tuổi, mẹ mở trường Trung học tư thục Long Đức. Bề ngoài là một ngôi trường, nhưng bên trong lại là cơ sở hợp pháp của Tỉnh ủy. Mẹ vừa làm Hiệu trưởng, vừa âm thầm gây dựng phong trào, vận động trí thức, thương gia, phụ nữ ủng hộ cách mạng.
Năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm nghi ngờ, ra lệnh đóng cửa trường. Với bản lĩnh của một người phụ nữ trí thức kiên cường, mẹ lên Sài Gòn trực tiếp gặp Bộ trưởng Giáo dục để đấu tranh, tạo thế hợp pháp cho mình tiếp tục hoạt động. Nghe đến chi tiết ấy, nhiều đoàn viên không khỏi khâm phục sự thông minh, gan dạ của mẹ giữa vòng vây kẻ thù.
Từ năm 1960, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, mẹ tham gia công tác ở Khu ủy Tây Nam Bộ, rồi Trung ương Cục miền Nam. Năm 1969, khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập do Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, mẹ được phân công giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế – Xã hội – Thương binh.
Trong những năm tháng ác liệt nhất, người nữ Thứ trưởng giản dị ấy đã đi khắp chiến trường, lo cho thương binh, gia đình liệt sĩ, phụ nữ và trẻ em vùng giải phóng. Mẹ cũng tham gia công tác tuyên truyền đối ngoại, ra Hà Nội dự Đại hội Phụ nữ, gặp gỡ bạn bè quốc tế từ Liên Xô, Cu-ba, An-giê-ri… Với vốn tiếng Pháp lưu loát và phong thái đĩnh đạc, mẹ giúp bạn bè năm châu hiểu hơn về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam.
Nhưng có lẽ điều khiến không gian buổi sinh hoạt lặng đi nhất chính là câu chuyện về những người con của mẹ. Ba người con trai của mẹ – Nguyễn Huỳnh Sanh, Nguyễn Huỳnh Tài, Nguyễn Huỳnh Đại – đã anh dũng hy sinh trong Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Người con còn lại, Nguyễn Huỳnh Đạo, trở thành thương binh.
Một người mẹ tiễn ba con vào lửa đạn và mãi mãi không đón các con trở về.
Thế nhưng, mẹ không gục ngã. Mẹ tiếp tục công tác, tiếp tục tin vào Đảng, vào Hồ Chí Minh, vào ngày thống nhất. Sau năm 1975, mẹ đảm nhiệm nhiệm vụ Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ TP.HCM, tiếp tục cống hiến cho xã hội đến những năm cuối đời.
Năm 1994, mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, cùng nhiều huân chương cao quý. Nhưng phần thưởng lớn nhất của mẹ chính là hòa bình, là Tổ quốc thống nhất – điều mà mẹ và các con đã đánh đổi bằng máu và nước mắt.
Câu chuyện khép lại, nhưng hình ảnh người mẹ trí thức, kiên trung, chịu đựng mất mát mà vẫn trọn niềm tin với cách mạng khiến tuổi trẻ hôm nay xúc động.
Giữa hai mùa lửa đạn của dân tộc, mẹ đã sống một cuộc đời thầm lặng mà vĩ đại.
Người mẹ ấy – Bùi Thị Mè – mãi là biểu tượng của đức hy sinh, của lòng trung kiên và niềm tin son sắt với Tổ quốc Việt Nam.



