NGƯỜI MẸ Ở LÀNG VỌT
Làng Vọt nằm lọt thỏm giữa những dãy núi đá vôi của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Mùa hè năm 1972, gió Lào thổi qua những triền đồi khô khát như muốn đốt cháy cả sự sống. Những cánh đồng lúa cháy vàng, những dòng suối cạn khô, cây cối rũ lá vì nắng nóng. Thế nhưng, cái nóng ấy chẳng thấm vào đâu so với sức nóng của những trận bom B52 mà kẻ thù trút xuống mảnh đất này suốt 365 ngày đêm. Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng nổ xé trời của bom đạn đã trở thành âm thanh quen thuộc đến mức người dân tr
NGƯỜI MẸ Ở LÀNG VỌT
Làng Vọt nằm lọt thỏm giữa những dãy núi đá vôi của huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Mùa hè năm 1972, gió Lào thổi qua những triền đồi khô khát như muốn đốt cháy cả sự sống. Những cánh đồng lúa cháy vàng, những dòng suối cạn khô, cây cối rũ lá vì nắng nóng. Thế nhưng, cái nóng ấy chẳng thấm vào đâu so với sức nóng của những trận bom B52 mà kẻ thù trút xuống mảnh đất này suốt 365 ngày đêm. Tiếng gầm rú của máy bay, tiếng nổ xé trời của bom đạn đã trở thành âm thanh quen thuộc đến mức người dân trong làng có thể phân biệt được loại máy bay nào đang đến từ xa.
Bà Na năm nay đã ngoài 80, nhưng đôi mắt bà vẫn còn long lanh khi nhắc về những người con đã ngã xuống. Căn nhà nhỏ của bà nằm cuối làng, bên cạnh gốc đa cổ thụ đã chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử. Trên bàn thờ gia tiên, năm bức di ảnh xếp thành hai hàng, mỗi bức là một khuôn mặt trẻ trung, một nụ cười hồn nhiên. Nhà bà có năm người con trai. Cả năm người đều khoác ba lô lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc. Không ai bảo ai, không ai ép ai, tự họ thấy mình phải đi, phải cầm súng bảo vệ từng tấc đất quê hương.
"Ngày nó đi, thằng Út mới tròn 17 tuổi," bà kể, giọng khản đặc, đôi tay run run nâng lên hạ xuống như đang vuốt ve kỷ niệm. "Nó ôm tôi thủ thỉ: 'Má ơi, con đi rồi má đừng khóc. Cả làng mình có ai không đi đâu. Con đi, con về thắng lợi, con cưới vợ cho má vui.' Tôi bảo nó: 'Má không cần con cưới vợ sớm, má chỉ cần con về bình an.' Nó cười, cái cười tươi như hoa cúc mùa thu. Rồi nó xách ba lô, đội mũ tai bèo, đi theo đoàn quân ra khỏi cổng làng. Tôi đứng nhìn theo cho đến khi bóng nó khuất sau rặng tre, lòng quặn thắt."
Năm 1968, tin dữ ập về. Một buổi chiều cuối đông, trời se lạnh, bà Na đang nhóm lửa nấu cơm thì mấy người trong xã đội đến. Họ mang theo một mảnh giấy nhỏ, trên đó ghi vài dòng chữ nguệch ngoạc. Thằng Ba hy sinh ở chiến trường Khe Sanh. Mới 22 tuổi, tuổi đời còn quá trẻ để biết yêu thương trọn vẹn, thế mà nó đã biết chết vì Tổ quốc. Bà Na không khóc. Bà đứng lặng như pho tượng, đôi mắt nhìn xa xăm về phía rừng núi Trường Sơn. Mãi đến khi mấy người hàng xóm đến chia buồn, bà mới òa khóc như một đứa trẻ. Tiếng khóc nghẹn ngào, xé lòng người nghe.
Chưa kịp lau khô nước mắt, chưa đầy một tháng sau, thằng Tư lại ngã xuống trên đường Trường Sơn. Nó làm bộ đội công binh, mở đường cho xe qua đèo. Những cung đường Trường Sơn khi ấy là mục tiêu săn lùng ráo riết nhất của máy bay Mỹ. Ngày nào cũng có bom, ngày nào cũng có người chết. Một quả bom nổ, nó cùng sáu đồng đội vĩnh viễn nằm lại. Những người đồng đội còn sống chỉ kịp nhặt lại vài mảnh vải của bộ quần áo xanh màu lá, gói vào chiếc khăn tay, gửi về cho gia đình.
Bà Na như hóa đá trước những mất mát. Mái tóc bà bạc trắng chỉ sau một đêm. Những nếp nhăn hằn sâu trên trán, đôi mắt trũng xuống vì mất ngủ và nước mắt. Thế nhưng, bà vẫn động viên các con còn lại ở nhà: "Đi đi các con. Má còn sống là còn chờ. Đất nước cần tụi con. Đừng vì thương má mà ở lại, tội với đồng đội, tội với Tổ quốc."
Thằng Hai, thằng Năm và thằng Út tiếp tục ra trận. Họ đi như một sự tất yếu, như nước chảy về biển, không thể nào ngăn lại. Rồi lần lượt từng người, từng người một ra đi, không trở về. Thằng Hai hy sinh ở chiến trường Quảng Trị trong trận Thành Cổ mùa hè đỏ lửa năm 1972. Thằng Năm ngã xuống khi đang vận chuyển lương thực trên đèo Đá Đẽo, bị trúng pháo kích, cả cơ thể không còn nguyên vẹn.
Thằng Út hy sinh ngày 30 tháng 4 năm 1975 – đúng ngày chiến thắng. Nó ngã xuống ở sân bay Tân Sơn Nhất, khi hòa bình chỉ còn cách vài giờ đồng hồ. Người đồng đội kể lại, nó đang cắm lá cờ giải phóng lên nóc một chiếc xe tăng thì trúng đạn bắn tỉa. Nó ngã xuống mà tay vẫn ôm chặt lá cờ, máu nhuộm đỏ một góc sân bay. Hòa bình đến, nhưng thằng Út không kịp chứng kiến. Nó ra đi khi mới 20 tuổi, tuổi đời còn đẹp như những đóa hoa phượng đỏ rực cuối trời.
Cả năm người con trai, bà Na chỉ nhìn thấy di ảnh trên bàn thờ. Có người chưa kịp chụp tấm hình nào, chỉ có bức ảnh cắt từ giấy chứng minh thư nhòa mờ, mờ đến nỗi khó nhận ra khuôn mặt. Vậy mà bà vẫn nhìn họ suốt hàng chục năm qua, trò chuyện với họ mỗi ngày, mỗi sáng, mỗi tối.
Hỏi bà có oán hận gì không, bà chỉ lắc đầu: "Đau lắm chứ. Đến Tết, ngồi mâm cơm chỉ có hai mẹ già. Chồng tôi mất sớm, năm người con trai đều hy sinh, tôi ở vậy nuôi các con dâu, các cháu nội ngoại. Có những đêm, tôi thức trắng, gọi tên từng đứa một. Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu không có các con tôi hy sinh, làm sao có đất nước hôm nay? Tôi tự hào về các con tôi. Cả dòng tộc, cả làng xóm đều tự hào về chúng nó."
Bà Na được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng – một trong những bà mẹ có nhiều con liệt sĩ nhất của tỉnh Quảng Bình. Nhưng điều bà trân quý nhất vẫn là tấm lòng của những người con đã không ngại ngã xuống vì độc lập tự do. Giờ đây, khi đất nước đã hòa bình, thống nhất, bà Na vẫn ngày ngày thắp hương trên bàn thờ các con. Khói hương quyện vào chiều hoàng hôn, bay lên trời cao, mang theo nỗi nhớ vô bờ của một người mẹ đã hy sinh tất cả cho Tổ quốc.



