NGƯỜI MẸ THẦM LẶNG
Trong lịch sử hào hùng và bi tráng của dân tộc Việt Nam, có những con người mà cuộc đời họ là một bản anh hùng ca bất diệt, gắn liền với những thăng trầm của vận mệnh đất nước. Thời kỳ hoa lửa không chỉ có bom rơi đạn lạc, sự tàn khốc của chiến tranh, mà còn rực sáng bởi những đóa hoa kiên cường, dũng cảm của các thế hệ đi trước. Trong số hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống và cống hiến cho cách mạng, Má Mười Thập (tên gọi thân thương của đồng chí Nguyễn Thị Thập) hiện lên như một biểu tượng
Trong lịch sử hào hùng và bi tráng của dân tộc Việt Nam, có những con người
mà cuộc đời họ là một bản anh hùng ca bất diệt, gắn liền với những thăng trầm của vận
mệnh đất nước. Thời kỳ hoa lửa không chỉ có bom rơi đạn lạc, sự tàn khốc của chiến
tranh, mà còn rực sáng bởi những đóa hoa kiên cường, dũng cảm của các thế hệ đi trước.
Trong số hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống và cống hiến cho cách mạng, Má
Mười Thập (tên gọi thân thương của đồng chí Nguyễn Thị Thập) hiện lên như một biểu
tượng vĩ đại, mang tính đại diện cao nhất cho hình ảnh người Phụ nữ Nam Bộ bất khuất.
Cuộc đời bà là sự hòa quyện trọn vẹn giữa hai vai trò thiêng liêng: Vừa là một cán bộ
tiền khởi nghĩa gan dạ, trí dũng, người trực tiếp chỉ đạo quần chúng giành chính quyền
trước Cách mạng Tháng Tám, vừa là một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng vĩ đại đã nén lại
nỗi đau thương tột cùng tận sâu thẳm tâm hồn khi dâng hiến cả người bạn đời và giọt
máu của mình cho ngày độc lập tự do của Tổ quốc.
Nguyễn Thị Thập, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Tốt, sinh năm 1908 tại xã Long
Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Sinh ra trong một gia đình
nông dân nghèo mang truyền thống yêu nước giữa lúc quê hương đang chìm trong ách
đô hộ của thực dân, bà sớm phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, cảnh đồng bào mình
oằn lưng dưới những hủ tục phong kiến, những khoản sưu cao thuế nặng và sự bóc lột
tàn nhẫn của địa chủ. Chính thực tại nghiệt ngã ấy đã hun đúc trong lòng cô gái trẻ một
lòng căm thù giặc sâu sắc và sớm giác ngộ con đường đấu tranh giải phóng dân tộc.
Từ năm 1928, khi mới tròn 20 tuổi, độ tuổi đẹp nhất của thanh xuân, bà đã gác
lại những ước mơ cá nhân để hăng hái tham gia Nông hội đỏ. Bà dũng cảm đi đầu trong
các cuộc đấu tranh của tầng lớp nông dân nghèo đòi giảm tô, giảm tức, chống lại sự áp
bức của cường hào ác bá. Đến năm 1931, nhờ những hoạt động năng nổ và ý chí kiên
định, bà chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, lấy bí danh là Mười
Thập. Hoạt động trong điều kiện bí mật, đối mặt với hệ thống mật thám bủa vây và bộ
máy đàn áp gắt gao của thực dân Pháp, Mười Thập đã thể hiện sự mưu trí phi thường.
Bà liên tục thay đổi hình dáng, giả dạng làm người buôn thúng bán bưng, đầu đội nón
lá tơi tả, vai quẩy gánh hàng rong len lỏi khắp các nẻo đường, bến đò. Bằng vỏ bọc ấy,
bà đã bền bỉ chắp nối liên lạc, tuyên truyền giác ngộ quần chúng và xây dựng vững chắc
các cơ sở cách mạng từ Mỹ Tho lan rộng sang các tỉnh Bến Tre, Tân An, và vươn tới cả
trung tâm Sài Gòn.
Dấu ấn lịch sử rực rỡ nhất trong cuộc đời hoạt động tiền khởi nghĩa của Má Mười
Thập chính là cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (1940). Lúc này, trên cương vị là Bí thư Tỉnh
ủy Mỹ Tho, bà là linh hồn của phong trào, người trực tiếp lên kế hoạch và lãnh đạo hàng
vạn quần chúng nhân dân nổi dậy. Đêm 22 rạng sáng ngày 23/11/1940, tiếng mõ Nam
Kỳ vang dội từ làng này sang xã khác, xé toạc màn đêm tĩnh lặng, gióng lên hồi chuông
báo hiệu sự trỗi dậy của những người cùng khổ ở Mỹ Tho. Dưới sự chỉ huy quả quyết
của Mười Thập, hàng vạn nông dân được trang bị vũ khí thô sơ như giáo mác, tầm vông
đã nhất tề đứng lên như thác lũ. Họ phá đồn bốt, cắt đứt đường dây điện tín, đánh chiếm
trụ sở chính quyền thực dân và thành lập chính quyền nhân dân ở nhiều xã.
Đặc biệt, tại Đình Long Hưng (Châu Thành, Mỹ Tho) – đại bản doanh của cuộc
khởi nghĩa, chính tay bà và các đồng chí của mình đã thức trắng đêm, chong đèn để cắt
may lá cờ đỏ sao vàng đầu tiên. Từng đường kim mũi chỉ không chỉ là sợi chỉ thêu bình
thường mà còn được dệt nên bởi niềm tin sắt đá và khát vọng tự do cháy bỏng. Hình ảnh
lá cờ đỏ sao vàng năm cánh tung bay đầy kiêu hãnh trước gió tại Đình Long Hưng đã
trở thành một biểu tượng thiêng liêng, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự tôn dân tộc và là
tiền đề cho Quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.
Cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ mang ý nghĩa lịch sử to lớn nhưng do điều kiện chưa
chín muồi, sau đó đã bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo, dìm trong biển máu bằng những
chiến dịch khủng bố trắng. Cơ sở cách mạng bị vỡ, hàng ngàn cán bộ, đảng viên ưu tú
bị bắt bớ, tra tấn dã man và đem ra hành quyết. Chồng bà - đồng chí Lê Văn Giác, một
cán bộ kiên trung của Đảng, cũng đã sa vào tay giặc trong một lần đi làm nhiệm vụ bí
mật.
Năm 1941, thực dân Pháp hèn hạ đưa đồng chí Lê Văn Giác ra pháp trường xử
tử nhằm uy hiếp tinh thần những người cộng sản. Đau đớn thay, ngay trong thời điểm
tang thương mang màu máu ấy, Mười Thập vừa mới hạ sinh một người con trai. Mang
theo đứa trẻ đỏ hỏn còn chưa kịp nhìn rõ mặt cha, nén chặt nỗi đau mất chồng đến xé
lòng, người nữ Bí thư Tỉnh ủy kiên cường ấy gạt đi nước mắt, lại phải tiếp tục lẩn trốn
sự truy sát gắt gao của bầy chó săn và mật thám. Những tán rừng dừa nước rậm rạp và
những bãi lầy mịt mùng ở Nam Bộ trở thành tấm bia che chở hai mẹ con. Bà nếm mật
nằm gai, ngủ bờ ngủ bụi, vừa bảo vệ giọt máu quý giá của người liệt sĩ, vừa âm thầm
bảo vệ hạt giống phong trào cách mạng đang chịu tổn thất nặng nề.
Nhưng bi kịch của chiến tranh chưa dừng lại ở đó. Đất nước tiếp tục trải qua hai
cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Người con trai mà bà
từng ôm ấp, chở che trong vòng tay chạy trốn sự bủa vây của giặc năm xưa đã khôn lớn,
tiếp bước truyền thống của cha mẹ, hiên ngang lên đường chiến đấu. Và rồi, anh cũng
đã anh dũng ngã xuống vì độc lập của Tổ quốc. Nước mắt của người mẹ chảy ngược
vào trong, hóa thành ngọc sáng; bà đã hiến dâng trọn vẹn những người đàn ông thân yêu
nhất của đời mình cho lý tưởng giải phóng dân tộc.
Sự hy sinh to lớn của chồng và con không thể làm người nữ chiến sĩ ấy gục ngã,
trái lại, nó biến thành ngọn lửa căm thù giặc sâu sắc và rèn dũa ý chí chiến đấu sắt đá
hơn. Trong những năm tháng đen tối nhất trước tháng 8/1945, bất chấp nguy hiểm rình
rập mỗi ngày, Nguyễn Thị Thập tựa như con thoi, lặng lẽ đi lại giữa các xóm ấp, kiên trì
chắp nối lại các cơ sở cách mạng bị đứt gãy, khôi phục phong trào quần chúng ở Mỹ
Tho.
Tháng 8/1945, khi thời cơ lịch sử ngàn năm có một đã điểm, bà một lần nữa trở
thành ngọn cờ đầu vẫy gọi quần chúng. Với bản lĩnh dạn dày từ Khởi nghĩa Nam Kỳ,
bà trực tiếp lãnh đạo hàng vạn nhân dân Mỹ Tho vùng lên tước vũ khí của giặc Nhật,
đập tan bộ máy cai trị của chính quyền tay sai. Sự chỉ đạo tài tình của bà đã góp phần
giúp Mỹ Tho giành chính quyền về tay nhân dân một cách nhanh chóng và trọn vẹn vào
ngày 24/8/1945. Bà vinh dự trở thành một trong những cán bộ tiền khởi nghĩa có công
lao vô cùng to lớn trong việc định hình thắng lợi rực rỡ của Cách mạng Tháng Tám tại
chiến trường miền Nam.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công và trong suốt những thập kỷ xây
dựng, bảo vệ đất nước sau này, bà tiếp tục được Đảng và Nhà nước tín nhiệm giao phó
nhiều trọng trách quan trọng. Từ khóa I đến khóa VI, bà liên tục được nhân dân bầu làm
Đại biểu Quốc hội và giữ chức vụ Phó Chủ tịch Quốc hội (từ khóa II đến khóa VI). Đặc
biệt, bà đã đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong suốt 18
năm ròng rã. Tại đây, bà đã đóng góp một phần công sức vô cùng to lớn trong việc tham
mưu, soạn thảo và thúc đẩy việc ban hành Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên của nước
ta (năm 1959). Đây là một đạo luật mang tính cách mạng, đập tan những xiềng xích của
lễ giáo phong kiến trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền lợi chính đáng, giải phóng và tôn
vinh nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam trong chế độ mới.
Với những cống hiến vĩ đại mang tầm vóc lịch sử, Nguyễn Thị Thập là người phụ
nữ Việt Nam đầu tiên vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng –
Huân chương cao quý nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (vào năm
1985). Đồng thời, trước sự hy sinh vô giá của cá nhân và gia đình (chồng và con trai đều
là liệt sĩ), bà đã được Đảng và Nhà nước trân trọng phong tặng danh hiệu: Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng.
Cuộc đời 88 năm trọn vẹn dâng hiến của Mẹ Việt Nam Anh hùng, nhà lãnh đạo
xuất sắc Nguyễn Thị Thập là minh chứng sống động, rực rỡ nhất cho chân lý: Lịch sử
cách mạng Việt Nam không chỉ được viết nên bởi xương máu, mà còn được nuôi dưỡng
và che chở bởi nước mắt, lòng bao dung và ý chí kiên cường, bất khuất của những người
phụ nữ.



