NGƯỜI NỮ ANH HÙNG BÊN DÒNG SÔNG HẬU
“Người nữ Anh hùng bên dòng sông Hậu” kể về bà Đỗ Thị Năm, người con gái miền Tây tham gia giao liên khi mới 16 tuổi. Những năm đầu, bà dùng ghe xuồng chuyển thư từ, tài liệu và đưa đón cán bộ qua những tuyến sông thường xuyên có tàu tuần tra kiểm soát. Cuối năm 1968, bà bị bắt khi đang mang thai và phải sinh con trong Khám lớn Vĩnh Long. Sau khi được trả tự do và nhận tin chồng hy sinh, bà tiếp tục đi theo cách mạng. Từ tháng 8 năm 1972 đến tháng 4 năm 1975, bà thực hiện trót lọt 279 chuyến vậ
Cô gái nghèo của vùng cù lao
Đỗ Thị Năm sinh năm 1949 trong một gia đình nông dân nghèo. Cha mất sớm, bà sống cùng mẹ và hai người em. Gia đình không có nhiều ruộng vườn, quanh năm phải đi làm thuê để đổi lấy gạo nuôi nhau.
Tháng 4 năm 1965, khi mới khoảng 16 tuổi, cô gái Đỗ Thị Năm xin tham gia làm giao liên tại xã Lục Sĩ Thành. Đồng đội đặt cho bà bí danh Năm Thắng, cái tên theo bà trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng.
Lục Sĩ Thành là một vùng cù lao nằm giữa những nhánh sông thuộc hệ thống sông Hậu. Phương tiện đi lại chủ yếu là xuồng chèo hoặc ghe gắn máy đuôi tôm. Các trạm giao liên được bố trí kín đáo trong vườn cây, ven rạch hoặc tại nhà những người dân tin cậy.
Nhiệm vụ của lực lượng giao liên là chuyển thư từ, tài liệu, đưa cán bộ từ địa bàn này sang địa bàn khác và giữ cho đường dây liên lạc không bị gián đoạn. Ghe xuồng thường phải đi ngang những tuyến có tàu tuần tra, đồn bốt và các trạm kiểm soát.
Người giao liên trên sông Hậu
Mỗi chuyến đi của Năm Thắng đều đòi hỏi sự bình tĩnh. Bà phải quan sát con nước, ghi nhớ đường đi, nhận biết tín hiệu của đồng đội và lựa chọn thời điểm vượt qua những đoạn sông đang bị kiểm soát.
Ban ngày, bà có thể cải trang thành người đi chợ hoặc đi làm thuê. Tài liệu được giấu kín trong đồ dùng, hàng hóa hoặc dưới khoang ghe. Khi có tàu tuần tra xuất hiện, người giao liên phải ứng xử tự nhiên như một người dân bình thường.
Trên tuyến đường ấy, một số đồng đội của bà đã không trở về. Có người bị phát hiện khi đang chuyển thư; có người gặp nguy hiểm lúc chạy ghe qua các đồn ven sông. Những mất mát ấy khiến Năm Thắng hiểu rõ mức độ nguy hiểm của nhiệm vụ, nhưng bà vẫn tiếp tục bám tuyến.
Sinh con trong Khám lớn Vĩnh Long
Cuối năm 1968, trong một chuyến thực hiện nhiệm vụ, ghe của Năm Thắng bị lực lượng tuần tra giữ lại tại khu vực Kinh Xáng Ngay. Bà tìm cách tháo dây để ghe trôi theo dòng nước nhưng bị phát hiện và bắt đưa về Khám lớn Vĩnh Long.
Khi bị bắt, bà đang mang thai. Trong thời gian bị giam giữ và thẩm vấn, bà không cung cấp thông tin về cơ sở, đồng đội hay đường dây giao liên. Bà phải sinh người con đầu lòng ngay trong nhà tù.
Các nguồn địa phương ghi thời điểm bà bị bắt có chênh lệch nhẹ: bài bút ký năm 2024 ghi tháng 9 năm 1968, trong khi tư liệu về Khám lớn Vĩnh Long ghi tháng 10 năm 1968. Vì vậy, có thể xác định sự việc xảy ra vào cuối năm 1968.
Sau hơn một năm không thu được thông tin từ bà, nhà chức trách phải trả tự do cho Năm Thắng vào tháng 10 năm 1969. Khi ra khỏi nhà tù, sức khỏe bà suy yếu, bên cạnh lại có một đứa con còn rất nhỏ.
Năm 1970, chồng bà, ông Phan Văn Thành, đang làm nhiệm vụ tại địa phương, hy sinh. Người phụ nữ trẻ vừa trải qua tù đày lại phải chịu thêm nỗi đau mất chồng.
Bồng con tiếp tục theo cách mạng
Do nhà mẹ ruột và nhà chồng đều nằm gần đồn bốt, Năm Thắng không thể trở về sinh sống lâu dài. Bà mượn ghe của người dân, bồng con xuống ghe và sống lênh đênh trên sông để tránh sự theo dõi.
Đồng đội sau đó bố trí cho hai mẹ con ở gần một trạm y tế tại cù lao Tân Quy. Khi các đơn vị của tỉnh về hoạt động, Ban Hậu cần Tỉnh đội Vĩnh Long xin đưa bà về công tác. Ban đầu, bà được giao làm y tá trong Đội Vận tải.
Tháng 8 năm 1972, trước yêu cầu chi viện cho các đơn vị chiến đấu, Năm Thắng được chuyển sang làm nhiệm vụ vận tải vũ khí bán công khai bằng đường sông.
Chiếc ghe không mui và ba mẹ con “đi buôn”
Phương tiện được giao cho bà là một chiếc ghe gỗ có trọng tải khoảng hai tấn, không có mui, gắn máy đuôi tôm. Cùng đi thường có một nữ giao liên khác và người con nhỏ của bà.
Việc cho con đi cùng không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh không có người chăm sóc. Hình ảnh hai người phụ nữ và một đứa trẻ trên chiếc ghe chở chuối, rau củ, bánh hoặc đồ dùng sinh hoạt khiến họ trông giống một gia đình nghèo đang đi buôn bán trên sông.
Phía dưới hàng hóa thông thường là súng, đạn, tài liệu và những vật phẩm cần chuyển tới các đơn vị. Mỗi chuyến đi, Năm Thắng phải vượt qua nhiều đồn bốt, trạm kiểm tra và tàu tuần tra.
Có lần một toán tuần tra yêu cầu ghe dừng lại vì nghi ngờ chở hàng cho cách mạng. Năm Thắng vẫn bình tĩnh, giải thích rằng hai chị em nghèo, mượn ghe đi mua bán kiếm sống và chủ động nói họ có thể xuống kiểm tra.
Thái độ tự nhiên cùng lớp hàng hóa ngụy trang khiến toán tuần tra không phát hiện khoang bí mật. Sau một hồi kiểm tra, chúng lấy một ít đồ ăn rồi cho ghe tiếp tục hành trình.
Chuyến ghe được chính đối phương kéo giúp
Một lần khác, Năm Thắng nhận hàng ở vùng Kiến Phong, nay thuộc Đồng Tháp. Đây là địa bàn bà chưa từng đi qua, đường sông có nhiều ngã rẽ và những đoạn kênh cạn.
Chiếc ghe hôm ấy chở đạn phía dưới, bên trên chất những buồng chuối cùng bánh trái để ngụy trang. Khi đến một đoạn kênh cạn, ghe mắc lại vì quá nặng. Đúng lúc ấy, một toán lính đi ngang qua.
Không thể tránh né, Năm Thắng chủ động gọi họ tới giúp kéo ghe. Bà mời họ ăn chuối và bánh trên thuyền. Khi có người thắc mắc vì sao chiếc ghe nặng bất thường, bà giải thích rằng ghe cũ đã được đắp thêm một lớp xi-măng quá dày dưới đáy.
Những người lính tin lời, cùng nhau kéo chiếc ghe qua đoạn cạn mà không biết chính họ vừa giúp một chuyến hàng phục vụ cách mạng tiếp tục hành trình.
Không quay ghe khi nhiệm vụ chưa hoàn thành
Trên một chuyến đi qua Trà Ôn, ghe của Năm Thắng bị gọi dừng lại. Lo ngại người quen có thể nhận ra mình, bà quyết định không ghé vào trạm kiểm soát mà tăng tốc cho ghe chạy tiếp.
Phía sau có tiếng súng truy đuổi, nhưng bà vẫn giữ tay lái và đưa chuyến hàng tới nơi an toàn. Điều bà lo nhất không phải tài sản cá nhân mà là số hàng không kịp đến với đơn vị đang chuẩn bị chiến đấu.
Có chuyến ghe vô tình đi vào khu vực đang xảy ra giao tranh. Năm Thắng bị giữ lại và bị nghi ngờ làm liên lạc cho cách mạng. Bà bình tĩnh giải thích mình chỉ là người dân nghèo đi làm ăn và tỏ ra lo sợ như một người hoàn toàn không biết chuyện.
Khi được yêu cầu thực hiện một công việc nguy hiểm ở phía bên kia sông, bà tiếp tục tìm lý do từ chối. Lúc lực lượng du kích hoạt động trở lại khiến toán lính phân tán, bà nhanh chóng cho ghe rời khỏi khu vực.
279 chuyến hàng trong ba năm
Từ tháng 8 năm 1972 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng vào tháng 4 năm 1975, Năm Thắng thực hiện trót lọt 279 chuyến vận tải.
Trong đó có 79 chuyến nhận hàng từ Quân khu đưa về tỉnh qua địa bàn Kiến Phong và hơn 200 chuyến hoạt động trong tỉnh hoặc liên tỉnh. Tổng số hàng bà vận chuyển gồm hơn 22 tấn súng, đạn dược, chưa tính gạo, tài liệu và thư từ.
Năm 1973, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, báo cáo của Năm Thắng được lựa chọn làm một trong những điển hình tiêu biểu. Các cán bộ hậu cần đánh giá rằng khối lượng hàng bà vận chuyển qua những vùng bị kiểm soát là nhiệm vụ rất khó hoàn thành nếu chỉ sử dụng cách mang vác thông thường.
Thành tích không chỉ nằm ở con số 22 tấn hàng, mà còn ở việc từng chuyến ghe đều phải được tổ chức bí mật, ngụy trang hợp lý và xử lý linh hoạt trước những tình huống bất ngờ.
Danh hiệu dành cho người phụ nữ “chân trần chí thép”
Năm 1972, Đỗ Thị Năm được công nhận là Chiến sĩ Thành đồng Quyết thắng và được tặng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba.
Ngày 6 tháng 11 năm 1978, Thượng sĩ Đỗ Thị Năm được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận tinh thần kiên cường, sự mưu trí và những đóng góp đặc biệt của bà đối với tuyến vận tải hậu cần tại Vĩnh Long.
Sau chiến tranh, bà trở về sống tại ấp Mỹ Thạnh A, xã Lục Sĩ Thành. Cuộc sống của nữ anh hùng vẫn giản dị trong một căn nhà nhỏ, gần dòng sông từng gắn với những chuyến vận tải năm xưa.
Bà mất ngày 13 tháng 6 năm 2022. Người con trai được sinh ra trong Khám lớn Vĩnh Long tiếp tục thờ cúng và lưu giữ những kỷ niệm về mẹ.



