Người nữ biệt động mang biệt danh "Chim sắt"
Lê Thị Thu Nguyệt gia nhập lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định từ năm 1960, tham gia nhiều nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm và được biết đến với biệt danh "Chim sắt". Năm 1963, bà tham gia nhiệm vụ đánh phá tàu bay FHA007 của Mỹ, sau đó bị bắt giam 11 năm nhưng vẫn tiếp tục đấu tranh cho đến ngày đất nước được giải phóng.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thị Thu Nguyệt là một trong những chiến sĩ tiêu biểu của lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định. Với biệt danh "Chim sắt", bà đã tham gia nhiều nhiệm vụ đặc biệt nguy hiểm ngay giữa trung tâm đầu não của địch, góp phần làm nên những chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Năm 1960, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, cô gái trẻ Lê Thị Thu Nguyệt đã gia nhập lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định. Đây là lực lượng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ, hoạt động ngay trong lòng địch. Theo bà, biệt danh "Chim sắt" mang ý nghĩa bay cao, bay xa, đánh nhanh, đánh đau và giành thắng lợi lớn.
Khi tham gia Đội 159, bà được giao nhiều nhiệm vụ nhằm vào các cố vấn quân sự Mỹ đang có mặt ngày càng đông tại miền Nam. Chính vì thường xuyên được giao thực hiện các trận đánh liên quan đến mục tiêu Mỹ nên đồng đội đã gọi bà bằng biệt danh "Chim sắt".
Để hoạt động bí mật giữa sào huyệt của đối phương, Lê Thị Thu Nguyệt phải liên tục thay đổi thân phận. Có lúc bà đóng vai con của một vị tướng, có lúc là nữ sinh, con nhà tư sản hay người buôn bán. Mỗi vai diễn đều đòi hỏi cách ăn mặc, lời nói và cách ứng xử khác nhau. Trước mỗi nhiệm vụ, bà luôn ghi nhớ ba nguyên tắc được cấp trên căn dặn: không để lọt vũ khí vào tay giặc, không để lộ mục tiêu và không để đồng bào bị thương. Vì vậy, bà xác định nếu cần thiết thì sẵn sàng hy sinh vì đất nước và dân tộc.
Năm 1963, Lê Thị Thu Nguyệt tham gia một nhiệm vụ đặc biệt nhằm phá hủy tàu bay FHA007 của Mỹ. Để tiếp cận mục tiêu, bà phải đóng giả người yêu của một nhân viên làm nhiệm vụ đưa hàng lên máy bay trong sân bay. Đây là một nhiệm vụ đầy khó khăn và áp lực khi bà phải chấp nhận nhiều điều tiếng, hiểu lầm để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Không dừng lại ở đó, bà còn giả làm phụ nữ mang thai để bí mật đưa thuốc nổ vào sân bay. Sau nhiều nỗ lực và sự phối hợp chặt chẽ với cơ sở nội tuyến, khối thuốc nổ đã được đưa lên máy bay. Ban đầu, khi máy bay cất cánh mà chưa phát nổ, bà vô cùng lo lắng vì nếu kế hoạch thất bại, toàn bộ cơ sở cách mạng có thể bị lộ. Tuy nhiên, ngày hôm sau, qua theo dõi tin tức, lực lượng cách mạng xác nhận chiếc máy bay mang số hiệu FHA007 đã phát nổ sau khi rời sân bay Tân Sơn Nhất và quá cảnh tại Honolulu. Trên chuyến bay có 300 quân Mỹ, trong đó có 80 sĩ quan cao cấp.
Cuối năm 1963, Lê Thị Thu Nguyệt bị địch bắt. Dù bị giam cầm suốt 11 năm, bà vẫn tiếp tục chiến đấu trong nhà tù. Trong thời gian bị tù đày, bà cùng các đồng chí kiên quyết đấu tranh chống ly khai, chống tố cộng, chống chào cờ và chịu nhiều hình thức đàn áp khắc nghiệt. Tuy vậy, ý chí của người chiến sĩ cách mạng vẫn không hề bị khuất phục.
Sau khi được trả tự do, Lê Thị Thu Nguyệt tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Cuộc đời chiến đấu của bà cùng những chiến sĩ Biệt động Sài Gòn đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng về tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.



