NGƯỜI NỮ DU KÍCH (4)
Giữa vùng quê giàu truyền thống cách mạng của Ấp 1, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (cũ), nay thuộc xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp, người nữ du kích Nguyễn Thị Phượng được lớn lên từ những năm tháng lịch sử đầy gian lao, hào hùng của dân tộc. Cuộc đời bà gắn liền với một gia đình có nhiều thế hệ cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, nơi lòng yêu nước được hun đúc bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của những người đi trước. Chân dung người nữ du kích ấy không chỉ là câu chuyện về một cá nhân, mà còn là hình ảnh tiêu biểu của sự tiếp nối truyền thống, của ký ức lịch sử được gìn giữ và lan tỏa qua các thế hệ.
Bà Nguyễn Thị Phượng sinh ngày 15/7/1955 tại Ấp 1, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (cũ), nay thuộc xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp. Tuổi thơ của bà gắn liền với những năm tháng chiến tranh ác liệt, khi quê hương còn in hằn dấu tích bom đạn và gian khó. Trong hoàn cảnh ấy, gia đình bà không chỉ là chỗ dựa tinh thần mà còn là một mắt xích quan trọng trong phong trào cách mạng địa phương. Mẹ ruột của bà là bà Phạm Thị Ba tên thường gọi là Phạm Thị Trĩ, người phụ nữ giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng và trực tiếp tham gia công tác giao liên cho Sài Gòn – Gia Định từ năm 1966 đến năm 1978.Sự kiên trung, gan dạ và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc của bà là tấm gương sáng, để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí người nữ du kích ấy ngay từ những năm tháng đầu đời. Với những cống hiến to lớn đó, ngày 25/7/2014, mẹ của bà vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng, sự ghi nhận thiêng liêng đối với một đời tận hiến cho Tổ quốc.
Không chỉ có mẹ ruột là Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình bên chồng của bà cũng mang đậm dấu ấn cách mạng. Mẹ chồng của bà là liệt sĩ, đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Anh hai trong gia đình là cán bộ tập kết ra Hà Nội năm 1954, tiếp tục tham gia công tác và cống hiến bền bỉ cho đến năm 1978. Những mất mát, hy sinh ấy không chỉ là nỗi đau riêng của gia đình mà còn là minh chứng sinh động cho tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của một dòng họ cách mạng tiêu biểu.
Lớn lên trong môi trường giàu truyền thống ấy, bà đã sớm hình thành nhân cách sống giản dị, giàu tình nghĩa, giàu trách nhiệm với gia đình và xã hội. Những câu chuyện về quá khứ hào hùng, về sự hy sinh thầm lặng của mẹ, của người thân đã trở thành hành trang tinh thần quý giá, hun đúc trong cô niềm tự hào, ý thức giữ gìn và tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình.
Năm 16 tuổi, khi nhiều bạn bè cùng trang lứa còn gắn bó với ruộng vườn, mái trường, bà đã sớm bước vào con đường cách mạng. Những ngày ấy, căn nhà nhỏ ở xã Cẩm Sơn trở thành nơi nuôi giấu bộ đội, tiếp tế lương thực, làm điểm dừng chân cho cán bộ qua lại. Bà theo mẹ lo từng bữa cơm, vá từng manh áo, lặng lẽ học cách giữ bí mật, cách bình thản trước ánh mắt dò xét của địch. Tuổi trẻ của bà trôi qua trong nỗi lo thường trực, nhưng cũng được hun đúc bằng niềm tin giản dị: còn người, còn làng quê, thì cách mạng còn.
Đến năm 18 tuổi, bà chính thức gia nhập lực lượng du kích, khoác lên mình vai trò người chiến sĩ giữa đời thường. Những đêm hành quân lội ruộng, phục kích bên bờ kênh, những lần nghe tiếng súng nổ dội về từ xa đã trở thành ký ức không thể phai mờ. Từ sự gan dạ, nhanh nhẹn và tinh thần trách nhiệm, bà được tổ chức tin tưởng giao nhiệm vụ Xã đội phó, phụ trách đội du kích nữ ở vùng kháng chiến. Dưới sự chỉ huy của bà, những cô gái nông thôn chân lấm tay bùn ngày nào đã trở thành những nữ du kích kiên cường, vừa chiến đấu, vừa bảo vệ cơ sở, góp phần giữ vững phong trào cách mạng ngay giữa vòng vây khốc liệt của kẻ thù.
Khi chiến trường bước vào giai đoạn quyết định, bà vẫn tiếp tục bền bỉ hoạt động trong phong trào cách mạng địa phương. Trong những ngày sục sôi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, bà tham gia tải đạn, vận chuyển vũ khí, tiếp sức cho các mũi tiến công đang ngày đêm áp sát Sài Gòn. Những chuyến đi gấp gáp trong đêm, những bước chân lặng lẽ băng qua ruộng đồng, kênh rạch, vai trĩu nặng đạn dược nhưng lòng người thì nhẹ tênh bởi niềm tin chiến thắng đã ở rất gần.
Giữa tiếng bom, tiếng súng và nhịp hành quân hối hả, bà cùng đồng đội hiểu rằng mỗi thùng đạn được chuyển đến kịp thời là thêm một phần sức mạnh cho chiến trường phía trước. Đó không chỉ là công việc hậu cần đơn thuần, mà là sự góp sức thầm lặng của những con người bình dị, sẵn sàng dốc toàn bộ sức lực cho giờ phút lịch sử của dân tộc – ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Sau ngày đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ hàn gắn và xây dựng, năm 1977, bà được tổ chức tin tưởng bổ nhiệm giữ chức vụ thư ký Đảng ủy xã Cẩm Sơn. Trên cương vị mới, bà tiếp tục đem tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và kinh nghiệm rèn giũa qua chiến tranh để phục vụ công tác Đảng ở cơ sở, gắn bó với cán bộ, đảng viên và Nhân dân địa phương cho đến ngày hòa bình, ổn định hoàn toàn.
Rời nhiệm vụ chuyên trách, bà vẫn không rời xa phong trào. Trong những năm tháng sau hòa bình, bà tiếp tục cống hiến cho đất nước, cho Tổ quốc bằng những việc làm lặng thầm nhưng bền bỉ: tham gia các phong trào thi đua yêu nước, vận động quần chúng, xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương. Với bà, tinh thần cách mạng không dừng lại khi tiếng súng ngưng vang, mà được tiếp nối bằng trách nhiệm công dân trong thời bình.
Hiện nay, bà tham gia sinh hoạt tại Chi hội phụ nữ và là một người đảng viên gương mẫu sinh hoạt tại Chi bộ khu phố An Bình 1, phường Long An, tỉnh Tây Ninh. Ở tuổi đời đã đi qua nhiều biến động lịch sử, bà vẫn giữ vẹn nguyên phẩm chất của người đảng viên kiên trung, trở thành tấm gương sáng cho thế hệ trẻ trong việc gìn giữ truyền thống, sống nghĩa tình và có trách nhiệm với cộng đồng.



