Người có công giúp đỡ cách mạng

Người ở lại - Giữ lửa trong thời chiến

Cuộc đời không ít biến động đã rèn giũa trong ông Phạm Văn Phú một nhân cách trầm lặng, vững chãi và giàu lòng bao dung. Thay vì khép mình trong ký ức đau thương, ông chọn cách sống tiếp nhưng là sống có trách nhiệm, sống để lan tỏa điều tử tế, và yêu nước hơn bao giờ hết. Nếu như bài học thời niên thiếu cho ông nghị lực vượt qua nghịch cảnh, thì những năm tháng trưởng thành và về già lại là quãng đời ông dành trọn để kết nối, sẻ chia và truyền cảm hứng sống đẹp cho những người xung quanh. Và cũ

Quảng Ninh02/03/2026Hà Ngọc Long (Công ty Cổ phần Công nghiệp ô tô)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lùi một bước vì gia đình, tiến một đời vì Đất nước

Chiến tranh không chỉ để lại dấu tích trên những cánh rừng Trường Sơn hay bãi bom miền Trung, mà còn hằn sâu trong từng mái nhà, từng con người người ở hậu phương. Với gia đình ông Phạm Văn Phú, một gia đình nông dân thuần hậu ở làng Quỳnh Lâu, những năm giữa thập niên 1965-1970 là chuỗi ngày vừa đầy tự hào, vừa nhiều mất mát.

Gia đình ông Phú có bốn anh chị em. Là con trưởng trong nhà, ông Phú từ nhỏ đã sớm ý thức trách nhiệm gánh vác việc nhà, chăm sóc mẹ cha và các em. Năm 1965, ông Phú lập gia đình. Theo chính sách thời bấy giờ, thanh niên đã lập gia đình sẽ được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự để ở lại hậu phương phục vụ sản xuất và ổn định đời sống dân sinh. Trong khi đó, Người em trai của ông Phạm Văn Cừ sinh năm 1949 khi ấy mới 17 tuổi là một cậu thanh niên gầy gò, ngoan hiền và đầy lý tưởng. Mặc dù chưa đủ tuổi đi nghĩa vụ quân sự theo quy định, nhưng với khát vọng cống hiến cho đất nước, ông Cừ đã tự làm đơn tình nguyện, khai sinh lùi năm về 1948 để được xếp vào diện đủ tuổi nhập ngũ. Đó là hành động đầy dũng cảm và ý thức trách nhiệm của một người con làng Quỳnh Lâu – mang trong tim khát vọng chung: góp một phần nhỏ bé của mình cho đất nước sớm hòa bình.

Gác lại nỗi đau, giữ trọn niềm tự hào

Ngày 27/7/1967, em trai ông Phú là Phạm Văn Cừ chính thức nhập ngũ. Trước đó, sau đợt huấn luyện tại khu vực Yên Tử, ông Cừ được đơn vị cho về thăm nhà. Đó là lần trở về ngắn ngủi nhưng ấm áp, mang theo cả ánh mắt trìu mến khi nhìn thấy đứa cháu mới sinh, con đầu lòng của ông Phú bụ bẫm và đáng yêu. Trước khi lên đường, ông Cừ không quên động viên anh chị, vỗ về cha mẹ già, rằng mình chỉ đi một thời gian, khi đất nước hòa bình sẽ trở về. Thế nhưng, cuộc chia tay ấy đã trở thành lần vĩnh biệt.

Trong một chuyến hành quân tiếp vận vũ khí, lương thực vào miền Nam theo tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, đơn vị ông Cừ bị địch phục kích tại khu vực Suối Lôi, Núi Toan, Kon Tum. Theo lời đồng đội kể lại, ông bị thương gãy chân khi lấy thân mình che chở cho anh em. Trước khi ngã xuống, ông đã nói mạnh mẽ, không hề yếu đuối: "Các anh cứ đi trước, tôi ở lại sau." Khi tình hình ổn định, đồng đội quay lại tìm thì ông đã không còn dấu vết. Ngày 1/6/1968, ông Cừ được xác nhận hy sinh. Đến nay, hài cốt vẫn chưa được tìm thấy. Mẹ ông là bà cụ Troẹt vì quá đau đớn và lo sợ, đã đốt hết những lá thư ông Cừ gửi về như một cách để chôn chặt nỗi đau trong im lặng.

Ông Phú kể lại câu chuyện ấy với giọng to, giõng dạc, đôi khi lại vui cười, thỉnh thoảng lắng đọng vài giây vì sợ quên chi tiết nào. Ông luôn dạy con cháu sống biết ơn, biết tự hào về truyền thống cách mạng, về lòng yêu nước của gia đình, của bao thế hệ đã ngã xuống vì độc lập dân tộc. Dù không trực tiếp ra chiến trường, ông Phú đã ở lại, giữ hậu phương, làm tròn chữ Hiếu, lo cho mẹ già, cho các em, cho cháu nhỏ nên người. Từ nỗi đau riêng, ông càng sống tử tế hơn, trách nhiệm hơn, gắn bó với công tác xã hội, mặt trận, chăm lo giáo dục thế hệ sau. Khi nhắc đến chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho thương binh, liệt sĩ là biểu hiện thiêng liêng của lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh cho độc lập, tự do. Ông nói: "Đảng không quên ai cả, đất nước này không quên người ngã xuống", ông nói như một lời khẳng định, vừa tin tưởng, vừa tự hào.

Hình ảnh: Ông Phú lau ảnh em trai liệt sỹ Phạm Văn Cừ.

Ông Phú sống lạc quan trong mọi hoàn cảnh, kể cả giữa mất mát và trống vắng. Ông vẫn luôn nghĩ: em trai ông nằm lại nơi rừng sâu ấy là để góp một phần nhỏ bé vào việc gìn giữ từng tấc đất biên cương, từng dòng sông, ngọn núi của Tổ quốc. Sự hy sinh thầm lặng ấy, theo ông, là một minh chứng sống động cho sự toàn vẹn lãnh thổ, cho dải đất hình chữ S, cho Hoàng Sa, Trường Sa là những vùng biển đảo thiêng liêng không dễ gì mà giữ được. Và cũng chính từ suy nghĩ ấy, ông chọn cách sống tiếp bằng sự tử tế, bằng việc âm thầm cống hiến như một sự tiếp nối sứ mệnh còn dang dở của người em đã ngã xuống.

Ngọn lửa cách mạng không bao giờ tắt trong mái nhà nhỏ Từ Trường Sơn đến biên giới phía Bắc – Một dòng máu yêu nước.

Truyền thống cách mạng ấy không chỉ dừng lại ở người em trai thứ hai của ông Phú là liệt sĩ Phạm Văn Cừ, mà còn tiếp nối sang người em trai thứ ba ông Phạm Văn Khang, sinh năm 1958, lớn lên trong hòa bình nhưng vẫn sẵn sàng cầm súng khi Tổ quốc gọi tên.

Sau ngày đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất hai miền Nam - Bắc, Đảng và Nhà nước chuyển trọng tâm sang xây dựng, phát triển kinh tế, khôi phục hạ tầng và chăm lo đời sống nhân dân. Những tưởng thế hệ sau sẽ được sống trọn vẹn trong thanh bình, thì năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, người em út trong gia đình ông Phú là ông Phạm Văn Khang khi ấy vừa tròn 21 tuổi đã không ngần ngại xung phong nhập ngũ, mang trong mình khí chất của một gia đình có truyền thống cách mạng, tiếp bước những người đi trước.

Còn ông Phú, lúc ấy đang công tác tại kế toán Hợp tác xã nông nghiệp Cộng Hòa, vẫn lặng lẽ giữ vai trò hậu phương, tiếp tục làm tròn bổn phận chăm sóc mẹ già, phụ giúp các em trong gia đình và cống hiến hết mình cho công cuộc sản xuất nông nghiệp – một trong những chiến tuyến quan trọng của đất nước thời hậu chiến.

Với mẹ già, bà cụ Troẹt, ông luôn giữ trọn chữ hiếu. Ông luôn nhớ những ngày bà gửi thư động viên cha trong cải cách ruộng đất đầy oan trái, giữ vững niềm tin vào sự sửa sai của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với cha, ông Lý Cự, ông Phú luôn dành sự kính trọng sâu sắc vì đã giữ vững bản lĩnh vượt lên nghịch cảnh.

Không chức vụ cao, không danh xưng nổi bật, nhưng ông Phú sống như ngọn đèn dầu thắp sáng những giá trị sống đẹp, trách nhiệm và yêu nước giữa đời thường. Mỗi việc ông làm, từ chăm sóc mẹ già, nuôi em nhỏ, sự hy sinh thầm lặng của người thanh niên trai tráng chưa bao giờ đi xa khỏi lũy tre làng, nén ước mơ hoài bão của mình để cả gia đình cùng chung tay hướng về độc lập dân tộc của Đất nước.

Đến đây, chúng ta có thể nghĩ đến một câu nói hết sức sâu sắc của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chia sẻ: “Cái quý nhất của con người là Cuộc sống và Danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí; để khỏi hổ thẹn vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, bị mọi người khinh bỉ; để đến khi nhắm mắt xuôi tay, ta có thể tự hào rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời - sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì sự trường tồn của Dân tộc, sự vẻ vang của giống nòi và hạnh phúc của nhân dân!”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người ở lại - Giữ lửa trong thời chiến | Câu chuyện thời hoa lửa