Người ôm mộng hải hồ
Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913 tại xã Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Cha là ông giáo Phạm Văn Mùi, mẹ là bà Lý Thị Diệu. Gia đình nghèo khổ, năm lên 6 tuổi thì cha qua đời với lời trăn trối “…phải lo học hành đến nơi đến chốn… phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời”. Người chị gái là Phạm Thị Nhẫn đã phải nghỉ học, tần tảo nuôi nấng cho em ăn học. Thời đó, học trò nghèo mà được gia đình cho ăn học là rất hiếm. Cuộc sống rất nghèo đói, tù túng.
Lúc 12 tuổi, đi học qua cầu Thiền Đức, Lễ hai lần chứng kiến cảnh người nhảy xuống sông tự tử. Hỏi ra mới biết là do cuộc sống quá cơ cực, đói khổ. Từ đó, Lễ nuôi chí phải đánh đuổi thực dân Pháp để cho dân mình bớt khổ, muốn vậy phải có chiến lược, chiến thuật và vũ khí. Ở lớp tiểu học, Lễ học giỏi nhiều môn, đặc biệt là môn toán, lý hóa, cơ học.
Năm 1926, Lễ thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học đệ nhất cấp Mỹ Tho, được nhận học bổng trong 4 năm học (1926 – 1930). Năm 1930, Lễ thi đỗ vào Trường Petrus Ký (nay là Trường chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM) và được học bổng liên tục 3 năm liền. Bạn đồng học với Lễ tại trường có các học sinh Phạm Văn Thiện (tức Phạm Hùng), Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Tấn Ghi Trọng…là những học trò xuất sắc của khoá học.
Đến 1933, Lễ thi đậu loại giỏi bằng tú tài Tây và tú tài ta, được học bổng đi Hà Nội, nhưng Lễ không đi vì ở Việt Nam không có trường cũng như tài liệu dạy về vũ khí. Sau 2 năm đi làm ở Toà sứ Mỹ Tho, Phạm Quang Lễ gặp nhà báo Dương Quang Ngưu (1897-1938) – một Việt kiều Pháp yêu nước làm việc ở Toà bố Mỹ Tho. Dương Quang Ngưu biết Lễ có tư chất thông minh hiếm có đã vận động Hội Ái Hữu trường Chasseloup Laubat cấp một năm học bổng đi du học tại Paris. Học bổng này là của Hội Phụ huynh học sinh người Pháp và người Việt có quốc tịch Pháp mới được cấp.
Ngày 5/9/1933 Phạm Quang Lễ xuống tàu tại bến Nhà Rồng bắt đầu xa quê hương, xa mẹ và chị gái ở Trà Ôn để sang Pháp du học. Tiếp tục học lên, nắm vững những tri thức khoa học quan trọng để về giúp nước, giúp đời là ý chí và lòng ham muốn cuả người học trò giỏi đó khi từ Nam Bộ sang Paris.
Bà Khánh kể, theo hồi ức của Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa thì lúc đó từ cảng Sài Gòn sang cảng Marseille (Pháp) con tàu phải đi vòng qua nhiều nơi, mất hết 21 ngày, sau khi ghé nhiều nước châu Á, Phi, qua kênh đào Hồng Hải, kênh Suez, rồi vào Địa Trung Hải.
Từ Marseille, Lễ đến Paris trên một chiếc tàu hoả tốc hành. Vì học bổng của Trường Chasseloup Laubat chỉ cấp cho 1 năm, để có đủ tiền cho 2 năm đại học, Lễ phải nhảy vào học năm thứ hai, ở nhà trọ, tìm sách tự học năm thứ nhất và dồn sức làm 16 tiếng/ngày kiếm tiền trang trải. Quyết chí học rút 2 năm làm một, để chỉ 1 năm thôi là Lễ đã đủ điều kiện vào trường Đại học tại Paris.
Cuối năm 1936, Phạm Quang Lễ thi đậu vào Trường Quốc gia cầu cống và được học bổng tiếp. Anh học thêm các trường Đại học Sorbonne, Hàng không… và lần lượt tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học tại các trường: Đại học Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris.
Ít ai biết rằng, từ nhỏ Phạm Quang Lễ đã nuôi mộng… chế tạo vũ khí. Theo lời bà Khánh thì ông từng tiết lộ rằng ông vốn kém về ăn nói, làm công tác tuyên truyền không hợp. Muốn tổ chức lực lượng đánh thắng quân thực dân thì vấn đề vũ khí là hết sức quan trọng. Những cuộc khởi nghĩa trước đó thất bại phần lớn là do vũ khí quá thô sơ. Vì thế, Phạm Quang Lễ tìm cơ hội xuất dương để thực hiện hoài bão nghiên cứu và chế tạo vũ khí.
Nhưng đó là việc vô cùng khó khăn, như sau này ông kể lại: “Công việc chẳng phải là giản đơn. Không một nước nào trên thế giới lại ngớ ngẩn công bố các tài liệu kỹ thuật quân sự. Đế quốc Pháp đâu phải là điên đến mức để cho một người Việt Nam, kể cả những kẻ đã vào “làng Tây”, được đến học ở các trường dạy về vũ khí hay vào làm ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Vì thế, trong 11 năm đằng đẵng ấy, tôi chỉ có thể mò mẫm tự học một cách âm thầm, đơn độc và bí mật hoàn toàn…”.
Phạm Quang Lễ đã tự học bằng cách lân la làm quen với người thủ thư, để cứ mỗi sáng thứ 6, anh viết những cuốn sách muốn mượn đưa cho người thủ thư, chiều đến nhận sách và trong 2 ngày phải đọc xong, sáng thứ hai phải trả lại thư viện để không bị phát hiện. Vì thế, suốt bao năm ở nước ngoài mà Phạm Quang Lễ chẳng biết gì đến nhảy đầm, rượu tây, cứ rảnh là sách và sách. Trung bình cứ 20.000 tên sách mới chọn được một cuốn có liên quan đến vũ khí.
Trong số hơn một triệu tên sách ở thư viện, chỉ nhặt ra được 50 cuốn! Khó khăn như vậy nhưng cuối cùng, sau 11 năm tìm kiếm, Lễ đã có trong tay hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí nằm trong 1 tấn sách của mình.
Năm 1942, để thực hành những gì mình đã học, Phạm Quang Lễ sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay Halle ở miền Trung nước Đức và Viện nghiên cứu vũ khí. Kỹ thuật hàng không của Đức lúc bây giờ là tiến bộ nhất châu Âu. Mấy tháng sau, thấy không phù hợp, Lễ trở lại Paris làm cho công ty Sud Avion. Chỉ một thời gian ngắn sau thì máy bay quân Đồng minh đã oanh tạc tan tành xưởng máy bay Halle.
Nhờ ham học, Phạm Quang Lễ thông thạo các ngoại ngữ Pháp, Đức, Anh, Nga, Trung Quốc. Cách học ngoại ngữ của ông cũng lạ, khi muốn nghiên cứu sách quân sự Đức, ông hỏi anh bạn người Đức: “Biết được bao nhiêu chữ thì có thể đọc được sách quân sự bằng tiếng Đức?”, anh bạn trả lời: “Khoảng 4.000 chữ”. Thế là Lễ mua quyển từ điển Đức- Pháp khoảng 10.000 chữ và học thuộc lòng, đến lúc nhớ khoảng 40% là đọc sách quân sự bằng tiếng Đức được rồi. Cách học ấy cũng được anh áp dụng đọc sách triết học, quân sự của các nước khác.



