Người pháo thủ dũng cảm
Khi tôi đến, ông đang ngồi bên bếp lửa. Đối với người Mông, bếp lửa không bao giờ tắt suốt mùa Đông. Biết tôi không hút thuốc lào, ông chỉ tôi ngồi xuống rồi mời tôi một chén trà nóng. Năm nay ông không được khỏe, mắt đã mờ đi nhiều, căn bệnh khớp hành hạ đau nhức, đi lại rất khó khăn. Cũng phải thôi, khi con người ta đã bước vào cái tuổi "xưa nay hiếm" thì chuyện yếu đau, bệnh tật cũng là khó tránh khỏi. Chỉ duy giọng nói của ông là vẫn sang sảng, đầy chất lính. Nhìn ông, những câu chuyện về người cựu chiến binh tôi đã nghe nhiều lần lại hiện về.
Năm 20 tuổi, anh thanh niên Giàng Vần Hồ sau nhiều lần xung phong nhập ngũ bị từ chối (vì có hai anh trai đang tham gia chiến trường miền Nam) đã được toại nguyện. Sau 3 tháng huấn luyện, anh được hành quân thẳng vào chiến trường Đường 9 - Nam Lào. Thử thách đầu tiên trên cương vị pháo thủ số 3, hằng ngày tham gia chiến đấu trong mưa bom bão đạn của kẻ thù đã tôi luyện cho Giàng Vần Hồ một ý chí thép, trơ lỳ trước tiếng rú của pháo đài bay B52, tiếng rít của rốc két và cái khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn. Chàng trai trắng trẻo hôm nào bây giờ da đen sạm màu khói súng. Cái tố chất của người Mông giúp anh miễn nhiễm với sốt rét rừng, trong khi cả tiểu đội bị căn bệnh quái ác này hành hạ.
Năm 1972, anh chuyển qua chiến trường Quảng Trị, đúng vào lúc chiến tranh ngày càng ác liệt. Đồng đội lần lượt hy sinh, pháo thủ số 3 Giàng Vần Hồ trở thành hạ sĩ, Khẩu đội phó. Nhiệm vụ ngày càng nặng nề, những trận đánh trong thế cài răng lược, các anh ăn ngủ luôn tại trận địa. Một buổi chiều mùa hè năm 1972, bên bờ sông Ba Lòng, máy bay địch phát hiện trận địa pháo của ta, chúng bắn phá dữ dội. Một quả bom rơi trúng trận địa, Khẩu đội phó Hồ ngất đi, khi tỉnh lại thấy mình nằm trong một hố đất đen nhẻm, tối om. Anh bò lên trận địa, khẩu đội chỉ còn lại một mình, tất cả đã tan vào trong lòng đất. Anh vừa khóc, vừa bới tìm xác đồng đội trong đêm tối, rồi lại ngất... Khi tỉnh lần hai, anh thấy mình đã nằm trong bệnh xá của lữ đoàn, đầu cuốn băng trắng xóa.



